Ngũ Đại Hồ (Great Lakes) là năm hồ nước ngọt lớn nối liền nhau ở vùng biên giới Canada – Hoa Kỳ: Superior, Michigan, Huron, Erie và Ontario. Tổng diện tích mặt nước khoảng 244.000 km², xấp xỉ diện tích Vương quốc Anh, và chúng chứa khoảng một phần năm lượng nước ngọt bề mặt dạng lỏng của toàn thế giới.
Các hồ được khoét và lấp đầy chủ yếu nhờ những tảng băng lục địa khổng lồ trong kỷ băng hà gần nhất; khi băng rút đi cách đây hơn mười nghìn năm, nước tan đọng lại trong các lòng chảo. Nước chảy theo bậc từ Superior xuống Ontario, qua thác Niagara, rồi theo sông Saint Lawrence ra Đại Tây Dương.
Bài này giới thiệu từng hồ, cách băng hà tạo nên chúng, đường đi của nước, những hiện tượng thời tiết riêng của vùng hồ và vai trò của các hồ với sinh vật, giao thông và đời sống quanh bờ.
Năm hồ: mỗi hồ một tính cách
Các con số dưới đây làm tròn; mỗi nguồn có thể chênh lệch chút ít tuỳ cách đo mực nước.
| Hồ | Vị trí | Đặc điểm nổi bật |
|---|---|---|
| Superior | Cực tây bắc, giáp Ontario (Canada) và Minnesota, Wisconsin, Michigan (Hoa Kỳ) | Lớn nhất, sâu nhất, lạnh nhất; diện tích khoảng 82.000 km², thường được coi là hồ nước ngọt rộng nhất thế giới theo diện tích mặt nước |
| Michigan | Nằm trọn trong lãnh thổ Hoa Kỳ | Hồ duy nhất trong năm hồ không chạm biên giới Canada; bờ nam có Chicago |
| Huron | Giữa Michigan và tỉnh Ontario | Có vịnh Georgian rộng và đảo Manitoulin, thường được nhắc là đảo lớn nhất trong một hồ nước ngọt |
| Erie | Phía nam, giữa Ontario và các bang Ohio, Pennsylvania, New York | Nông nhất, ấm nhất, nhiều cá; dễ bị tảo nở hoa mùa hè |
| Ontario | Cực đông, cuối chuỗi | Nhỏ nhất về diện tích nhưng khá sâu; nhận nước từ Erie qua sông Niagara, đổ ra sông Saint Lawrence |
Một mẹo nhớ quen thuộc với học sinh tiếng Anh là ghép chữ cái đầu tên các hồ thành từ "HOMES" (Huron, Ontario, Michigan, Erie, Superior). Với người Việt, có thể nhớ theo thứ tự dòng chảy từ tây sang đông: Superior → Michigan và Huron → Erie → Ontario.
Thú vị là hồ Michigan và hồ Huron nối với nhau qua eo Mackinac rộng và sâu đến mức mặt nước hai hồ gần như bằng nhau. Về thuỷ văn, nhiều nhà khoa học xem Michigan – Huron là một hồ có hai thuỳ; nếu tính như vậy, đó mới là hồ nước ngọt rộng nhất theo diện tích. Đây là chuyện cách tính, không phải mâu thuẫn số liệu.
Băng hà đã đào nên các hồ như thế nào
Khoảng hơn hai mươi nghìn năm trước, ở cực điểm của thời kỳ băng hà gần nhất, một khối băng lục địa dày hàng km phủ gần hết Canada và phần bắc Hoa Kỳ. Khối băng nặng nề này trượt chậm trên mặt đất, cày xới những vùng đá mềm hơn, khoét sâu các thung lũng sông có sẵn thành những lòng chảo lớn.
Khi khí hậu ấm lên và băng rút dần về phía bắc, nước tan chảy đọng lại trong các lòng chảo, cùng với các bờ đất đá do băng đẩy tới đóng vai trò như đê chắn. Trong hàng nghìn năm, các hồ thay đổi hình dạng, mực nước và cả hướng thoát nước nhiều lần, có lúc đổ về phía nam qua hệ Mississippi, có lúc đổ về phía đông.
Một hệ quả ít người biết là mặt đất vùng này vẫn đang "bật" lên từ từ sau khi trút bỏ gánh nặng băng, hiện tượng gọi là nâng lên sau băng hà. Phía bắc nâng nhanh hơn phía nam, nên trong thời gian rất dài, bờ hồ phía nam có xu hướng ngập thêm còn bờ phía bắc nổi cao dần. Tốc độ chỉ tính bằng milimét mỗi năm, nhưng tích luỹ qua hàng thế kỷ thì đáng kể.
Hình dạng của chuỗi hồ cũng phản ánh nền đá bên dưới: bờ bắc hồ Superior là đá cổ cứng của Khiên Canada, gồ ghề và nhiều vách; trong khi bờ nam của Erie, Ontario là đá trầm tích mềm hơn, bờ thoải và đồng bằng nông nghiệp trù phú.
Đường đi của một giọt nước từ Superior ra Đại Tây Dương
Năm hồ không đứng riêng lẻ mà là các bậc thang nối nhau. Theo một giọt nước từ đầu nguồn ra biển:
- Bắt đầu ở hồ Superior, cao nhất trong chuỗi. Nước có thể ở lại hồ này rất lâu, nhiều ước tính nêu thời gian lưu nước trung bình tới hàng trăm năm vì hồ quá lớn mà dòng ra nhỏ.
- Theo sông St. Marys đổ xuống hồ Huron, nơi cũng nhận nước từ hồ Michigan qua eo Mackinac.
- Từ Huron, nước chảy qua sông St. Clair, hồ St. Clair nhỏ và sông Detroit để vào hồ Erie, hồ nông nhất.
- Từ Erie, nước theo sông Niagara, đổ qua thác Niagara, hạ độ cao đáng kể rồi vào hồ Ontario.
- Từ Ontario, nước đi vào sông Saint Lawrence, chảy về phía đông bắc qua vùng Montreal và Quebec, mở rộng thành cửa sông rồi ra vịnh Saint Lawrence và Đại Tây Dương.
Tàu biển ngày nay có thể đi ngược con đường này nhờ hệ thống âu tàu và kênh, gọi chung là tuyến đường thuỷ Saint Lawrence – Ngũ Đại Hồ. Các âu tàu nâng tàu qua những đoạn chênh mực nước, kể cả vượt qua độ cao của Niagara bằng kênh Welland. Nhờ vậy, vùng lõi lục địa có lối ra biển bằng đường thuỷ.
Thác Niagara: nơi hai hồ gặp nhau
Thác Niagara nằm trên sông Niagara, nối hồ Erie với hồ Ontario, đúng trên biên giới Canada – Hoa Kỳ. Thác gồm ba phần: thác Móng Ngựa (Horseshoe Falls) rộng hình vòng cung, phần lớn nằm về phía Canada, cùng thác American và thác Bridal Veil nhỏ hơn ở phía Hoa Kỳ. Độ cao rơi của thác vào khoảng năm mươi mét.
Niagara không cao nếu so với nhiều thác trên thế giới, nhưng lượng nước rất lớn khiến nó nổi tiếng. Mép thác được tạo bởi lớp đá cứng nằm trên lớp đá mềm; nước bào mòn lớp mềm bên dưới, làm lớp đá cứng phía trên gãy đổ, nên mép thác lùi dần về phía thượng nguồn qua hàng nghìn năm. Hẻm vực phía dưới thác chính là dấu vết của quá trình lùi đó.
Ngày nay, một phần đáng kể nước sông được dẫn qua đường hầm cho các nhà máy thuỷ điện ở hai bên bờ, và lượng nước qua thác được điều tiết theo thoả thuận giữa hai nước, nhiều hơn vào ban ngày mùa du lịch, ít hơn vào ban đêm và mùa đông. Nhờ con người điều tiết, tốc độ lùi của mép thác đã chậm lại đáng kể so với trước.
Hồ lớn đến mức tự tạo ra thời tiết
Tuyết hiệu ứng hồ. Đầu mùa đông, mặt hồ còn ấm hơn không khí lạnh từ Canada thổi qua. Không khí hút hơi ẩm và nhiệt từ mặt hồ, bốc lên, rồi trút tuyết xuống bờ phía khuất gió. Kết quả là những dải tuyết rất dày, có khi đổ một lượng lớn chỉ trong một ngày, ở các thành phố ven bờ đông và nam của các hồ. Vùng hứng tuyết như vậy được gọi là "vành đai tuyết".
Điều hoà khí hậu ven bờ. Nước hồ nóng lên và nguội đi chậm hơn đất liền, nên mùa xuân ven hồ mát hơn, mùa thu ấm kéo dài hơn. Nhờ đó một số dải đất ven hồ Erie và Ontario trồng được nho và cây ăn quả mà vùng nội địa cùng vĩ độ khó trồng.
Sóng và bão như biển. Gió mạnh thổi qua mặt nước rộng có thể tạo sóng cao như ngoài biển. Trong lịch sử, các hồ ghi nhận nhiều vụ đắm tàu, nhất là những cơn bão cuối thu. Đáy hồ lạnh và nước ngọt khiến xác tàu gỗ được bảo quản khá tốt, trở thành đề tài của khảo cổ dưới nước.
Băng mùa đông. Mỗi mùa đông, mặt hồ đóng băng một phần, mức độ khác nhau rất nhiều từ năm này sang năm khác. Hồ Erie nông nên có thể đóng băng gần hết; Superior sâu và rộng nên hiếm khi đóng kín.
Sinh vật, đô thị và những thách thức
Các hồ là nơi sinh sống của nhiều loài cá nước lạnh như cá hồi hồ, cá trắng, cá rô vàng, cùng các vùng đầm lầy ven bờ là điểm dừng chân của chim di cư. Trong thế kỷ 20, nhiều loài ngoại lai theo kênh đào và nước dằn tàu xâm nhập vào hồ, như cá mút đá biển, trai vằn, trai quagga, làm thay đổi lưới thức ăn và gây khó khăn cho nghề cá.
Ven bờ là một trong những vùng đô thị và công nghiệp lớn của Bắc Mỹ: Chicago, Milwaukee, Detroit, Cleveland, Buffalo phía Hoa Kỳ; Toronto, Hamilton phía Canada, cùng hàng chục thành phố khác. Hàng chục triệu người lấy nước sinh hoạt từ hệ hồ.
Giữa thế kỷ 20, ô nhiễm công nghiệp và nước thải từng làm nhiều vùng hồ suy thoái nặng, đặc biệt là hồ Erie với hiện tượng tảo phát triển quá mức. Hai nước đã cùng xây dựng các thoả thuận và chương trình làm sạch; chất lượng nước được cải thiện rõ, dù tảo nở hoa vẫn tái diễn vào một số mùa hè do phân bón từ đồng ruộng trôi xuống.
Bài học ở đây là một hệ nước dùng chung giữa hai quốc gia cần được quản lý chung. Đó cũng là lý do Ngũ Đại Hồ thường được nhắc tới khi bàn về quản lý tài nguyên nước xuyên biên giới.
Hiểu lầm hay gặp về Ngũ Đại Hồ
Vì quy mô quá lớn và nằm trên biên giới hai nước, Ngũ Đại Hồ hay bị hiểu sai ở vài điểm:
- "Năm hồ nằm cả ở Canada lẫn Hoa Kỳ." Bốn hồ nằm trên biên giới, riêng hồ Michigan nằm trọn trong lãnh thổ Hoa Kỳ.
- "Hồ Ontario nằm ở tỉnh Ontario nên lớn nhất." Ontario là hồ nhỏ nhất về diện tích trong năm hồ; tỉnh Ontario của Canada thì giáp cả bốn hồ Superior, Huron, Erie, Ontario.
- "Nước các hồ được thay mới nhanh." Với hồ lớn như Superior, nước ở lại trung bình rất lâu. Chất ô nhiễm lọt vào hồ có thể tồn tại nhiều năm, đó là lý do việc ngăn ô nhiễm từ đầu quan trọng hơn làm sạch về sau.
- "Ngũ Đại Hồ chỉ là hồ du lịch." Trên thực tế đây là nguồn nước uống, tuyến vận tải hàng hoá, ngư trường và nguồn thuỷ điện cho cả một vùng kinh tế lớn của hai nước.
- "Thác Niagara là thác cao nhất Bắc Mỹ." Niagara nổi tiếng nhờ lượng nước và vị trí dễ tới, không phải nhờ độ cao; Bắc Mỹ có nhiều thác cao hơn hẳn, ví dụ các thác trong vùng núi phía tây.
Nhìn lại, điều đặc biệt nhất của Ngũ Đại Hồ không phải một kỷ lục riêng lẻ mà là sự kết hợp: một lượng nước ngọt khổng lồ, nằm giữa lục địa, nối được ra biển, và được hai quốc gia cùng chia sẻ, cùng chịu trách nhiệm giữ gìn.
Câu hỏi thường gặp
Ngũ Đại Hồ có phải là hồ lớn nhất thế giới không?
Hồ có diện tích mặt nước lớn nhất thế giới là biển Caspi, nhưng nước của nó mặn lợ. Xét riêng hồ nước ngọt, Superior thường được xem là rộng nhất theo diện tích mặt nước. Còn theo thể tích nước ngọt, hồ Baikal ở Nga chứa nhiều nước hơn vì cực sâu.
Nước Ngũ Đại Hồ có mặn không?
Không, đây là hồ nước ngọt. Tuy rộng như biển, có sóng và có cả hiện tượng mực nước dao động như thuỷ triều nhỏ do gió và áp suất, nước hồ vẫn ngọt vì liên tục được thay mới qua dòng chảy ra sông Saint Lawrence và có nguồn từ mưa, tuyết, sông suối.
Có thể nhìn thấy bờ bên kia của hồ không?
Ở phần lớn các hồ, đứng trên bờ không thể thấy bờ đối diện vì khoảng cách quá xa và độ cong mặt đất che khuất. Mặt nước kéo tới tận chân trời giống như đứng trước biển, điều khiến nhiều người lần đầu tới bất ngờ.
Vì sao hồ Erie hay có tảo nở hoa?
Erie nông, ấm và nằm giữa vùng nông nghiệp, đô thị. Phân bón chứa phốt pho trôi theo sông vào hồ, gặp nước ấm mùa hè, làm vi khuẩn lam phát triển dày đặc. Một số loại tảo có thể tiết độc tố, nên các thành phố ven hồ phải theo dõi nguồn nước kỹ.
Mực nước Ngũ Đại Hồ có thay đổi không?
Có, theo mùa và theo nhiều năm, tuỳ lượng mưa, tuyết tan và lượng bốc hơi. Những đợt nước cao làm xói lở bờ, đợt nước thấp gây khó cho tàu và bến cảng. Biên độ chỉ vài chục centimet đến khoảng một, hai mét qua nhiều năm, nhưng tác động lên bờ rất rõ.
Thác Niagara có bao giờ đóng băng hoàn toàn không?
Những đợt rét đậm, hơi nước và bụi nước quanh thác đóng băng thành những khối băng lớn, khiến thác trông như đông cứng. Tuy vậy, dòng nước bên dưới hầu như vẫn chảy. Một lần thác gần như cạn nước từng được ghi nhận khi băng chặn dòng sông ở thượng nguồn.