Người xưa không có ảnh vệ tinh, nên mỗi nền văn hoá vẽ thế giới bằng những gì mình đi tới được, nghe kể lại và cần dùng. Bản đồ thế giới cổ nhất còn lại là một tấm đất sét nhỏ của người Babylon, thường được xác định niên đại khoảng thế kỷ 6 trước Công nguyên, vẽ vùng Lưỡng Hà nằm giữa một vòng biển tròn. Khoảng thế kỷ 2 sau Công nguyên, Ptolemy ở Alexandria biên soạn bộ Địa lý với toạ độ của hàng nghìn địa điểm. Châu Âu trung đại có loại sơ đồ T-O chia thế giới làm ba phần; các học giả viết tiếng Ả Rập và các nhà bản đồ Đông Á thì phát triển những truyền thống riêng.
Điểm chung dễ bỏ qua: bản đồ cổ không phải bản đồ hiện đại vẽ dở. Mỗi loại phục vụ một mục đích khác nhau, có loại để dạy về trật tự thế giới, có loại để đi biển, có loại để quản lý đất đai. Đọc bản đồ cổ đúng cách là hỏi nó được vẽ cho ai và để làm gì.
Bài này đi qua các truyền thống bản đồ lớn theo thứ tự thời gian, kèm bảng so sánh, và giải thích những "sai lầm" nổi tiếng của bản đồ cổ thực ra đến từ đâu.
Tấm đất sét Babylon: thế giới là một vòng tròn quanh Lưỡng Hà
Tấm bản đồ thế giới Babylon, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Anh ở London, chỉ to cỡ bàn tay. Trên đó có một vòng tròn kép tượng trưng cho vùng biển bao quanh, bên trong là đất liền với thành Babylon, dòng sông Euphrates chảy dọc, cùng các vùng và thành lân cận được khoanh bằng vòng tròn nhỏ. Bên ngoài vòng biển là những hình tam giác nhọn hướng ra ngoài, theo phần chữ kèm theo là những vùng đất xa xôi mà người ta chỉ biết qua truyền thuyết.
Tấm bản đồ không nhằm chỉ đường. Kích thước và vị trí các vùng không theo tỉ lệ; thứ được thể hiện là cách người Babylon sắp xếp thế giới trong đầu, với vùng đất của mình ở trung tâm và mọi thứ khác toả ra theo khoảng cách văn hoá nhiều hơn là khoảng cách đo đạc. Đây là một mẫu hình lặp lại ở rất nhiều nền văn hoá về sau: vùng quen thuộc được vẽ to và chi tiết, vùng xa được vẽ nhỏ, mờ và nhiều khi pha trộn huyền thoại.
Cũng nên nhớ rằng cái "cổ nhất còn lại" phụ thuộc vào chất liệu. Đất sét nung bền qua hàng nghìn năm, còn bản đồ vẽ trên da, vải, giấy hay gỗ của nhiều dân tộc khác có thể đã mất hết. Vì vậy, không nên suy ra rằng người Babylon là những người đầu tiên hình dung thế giới bằng hình vẽ; họ chỉ là những người để lại bằng chứng bền nhất mà khảo cổ học tìm thấy được đến nay.
Người Hy Lạp: từ vòng đất có người ở đến quả cầu có lưới
Truyền thống Hy Lạp thường gắn bản đồ thế giới đầu tiên với Anaximander ở thành Miletus, sống vào thế kỷ 6 trước Công nguyên. Bản đồ của ông không còn, chỉ được các tác giả sau nhắc lại. Hecataeus, cũng ở Miletus, được cho là đã bổ sung và viết kèm mô tả các vùng đất. Thế giới của họ là oikoumene, tức vùng đất có người ở mà người Hy Lạp biết, gồm quanh Địa Trung Hải, một phần châu Á và Bắc Phi, bao quanh bởi dòng đại dương.
Bước ngoặt về tư duy đến khi các học giả Hy Lạp chấp nhận Trái Đất là hình cầu, khoảng thế kỷ 5–4 trước Công nguyên. Aristotle đưa ra các lập luận quan sát được, như bóng Trái Đất in lên Mặt Trăng khi nguyệt thực luôn có mép cong, và các chòm sao thay đổi khi người ta đi lên phía bắc hay xuống phía nam. Khi đã có hình cầu, câu hỏi tiếp theo tự nhiên là quả cầu lớn bao nhiêu, và vùng đất có người ở chiếm bao nhiêu phần của nó.
Eratosthenes, vào thế kỷ 3 trước Công nguyên, vừa ước tính chu vi Trái Đất vừa vẽ bản đồ thế giới có các đường song song và vuông góc làm khung tham chiếu. Về sau Hipparchus đề xuất định vị các địa điểm bằng quan sát thiên văn thay vì chỉ dựa vào lời kể của người đi đường. Những ý tưởng đó chuẩn bị nền cho công trình của Ptolemy.
Ptolemy và bộ Địa lý: lưới toạ độ cùng những sai lệch nổi tiếng
Một cơ sở dữ liệu toạ độ. Claudius Ptolemy sống ở Alexandria khoảng thế kỷ 2 sau Công nguyên. Bộ Địa lý của ông, viết khoảng giữa thế kỷ đó, ghi kinh độ và vĩ độ của khoảng tám nghìn địa điểm, kèm hướng dẫn cách dựng bản đồ. Nói cách khác, ông để lại dữ liệu và phương pháp để người sau tự vẽ lại thế giới.
Kinh tuyến gốc ở rìa tây. Ptolemy đặt kinh độ 0 ở quần đảo mà người cổ đại gọi là quần đảo Hạnh Phúc, thường được đồng nhất với quần đảo Canary ngoài khơi tây bắc châu Phi, tức điểm cực tây của thế giới mà ông biết. Mọi kinh độ đều tính về phía đông từ đó.
Hai phép chiếu đầu tiên được mô tả có hệ thống. Ông mô tả cách vẽ lưới kinh vĩ tuyến cong để giảm méo khi trải phần thế giới đã biết lên mặt phẳng, một trong những bàn luận sớm nhất còn lại về phép chiếu bản đồ.
Những sai lệch lớn. Khối Á – Âu bị kéo dài quá mức về phía đông; Ấn Độ Dương được vẽ như một biển kín vì đất liền phía nam nối châu Phi với châu Á; đảo Taprobane, thường được hiểu là Sri Lanka, bị vẽ quá to. Phần lớn sai lệch đến từ việc kinh độ được suy từ khoảng cách đường bộ, đường biển do thương nhân ước lượng, cộng với một ước tính chu vi Trái Đất nhỏ hơn thực tế.
Sống lại sau hơn một nghìn năm. Bộ Địa lý được chép lại ở Byzantium, được dịch sang tiếng Latinh ở Ý vào đầu thế kỷ 15 và được in kèm bản đồ vào cuối thế kỷ đó. Các nhà bản đồ châu Âu thời đó coi Ptolemy là chuẩn mực, rồi dần sửa lại khi các chuyến hải hành mang về dữ liệu mới.
Bản đồ T-O và hải đồ portolan: hai thế giới song song ở châu Âu trung đại
Bản đồ T-O là một sơ đồ hình tròn rất đơn giản, phổ biến trong các bản chép tay châu Âu thời trung đại, thường gắn với sách bách khoa của Isidore thành Seville ở thế kỷ 7. Chữ O là vòng đại dương bao quanh; chữ T bên trong chia đất liền thành ba phần. Thanh dọc của chữ T là Địa Trung Hải, thanh ngang là sông Don ở bên trái và sông Nile ở bên phải. Phía đông đặt ở trên cùng, nên nửa trên của vòng tròn là châu Á, góc dưới bên trái là châu Âu, góc dưới bên phải là châu Phi.
Sơ đồ T-O không nhằm đo đạc hay chỉ đường; nó là hình minh hoạ cho một cách phân loại ba phần thế giới, dễ nhớ và dễ chép. Việc phía đông ở trên cũng để lại dấu vết ngôn ngữ: từ orientation trong nhiều ngôn ngữ châu Âu có gốc từ oriens, phía mặt trời mọc. Những tấm bản đồ thế giới lớn hơn về sau thêm thắt vô số chi tiết lịch sử, truyền thuyết và sinh vật kỳ lạ vào khung T-O, trở thành bách khoa bằng hình hơn là công cụ định vị.
Cùng thời đó, người đi biển Địa Trung Hải dùng một loại bản đồ hoàn toàn khác: hải đồ portolan. Tấm portolan cổ nhất còn lại thường được xác định niên đại cuối thế kỷ 13. Hải đồ vẽ đường bờ biển rất chi tiết, chi chít tên cảng dọc bờ, phủ một mạng đường thẳng toả ra từ các hoa hướng gió để thuyền trưởng đặt thước tìm góc la bàn. Độ chính xác của đường bờ Địa Trung Hải trên portolan khiến người đời sau ngạc nhiên. Hai loại bản đồ tồn tại song song cho thấy một điều: cùng một xã hội có thể dùng bản đồ hình tượng và bản đồ thực dụng cho hai việc khác nhau.
Al-Idrisi và các học giả viết tiếng Ả Rập
Trong khi Ptolemy gần như bị lãng quên ở Tây Âu trong nhiều thế kỷ, các học giả viết tiếng Ả Rập đã dịch, bình luận và bổ sung công trình của ông từ khoảng thế kỷ 9. Họ có lợi thế lớn: mạng lưới thương mại trải từ bán đảo Iberia tới Ấn Độ Dương, với thương nhân, sứ đoàn và người đi xa mang về mô tả đường đi, khoảng cách, phong tục.
Công trình nổi tiếng nhất là cuốn sách địa lý kèm bản đồ thế giới mà al-Idrisi hoàn thành năm 1154 cho vua Roger II của Sicily, thường được gọi theo tên Latinh là Tabula Rogeriana. Al-Idrisi tổng hợp tư liệu từ sách cổ và từ phỏng vấn người đi xa, chia thế giới đã biết thành các đới khí hậu theo vĩ độ, và đặt phía nam ở trên, theo thói quen của nhiều bản đồ trong truyền thống này.
Nhìn bản đồ của al-Idrisi, người hiện đại thường phải xoay ngược mới nhận ra hình bán đảo Ả Rập, Địa Trung Hải hay bờ biển Đông Phi. Đó là lời nhắc rằng việc đặt phía bắc ở trên chỉ là quy ước trở nên phổ biến về sau, chủ yếu theo truyền thống bản đồ châu Âu gắn với la bàn và sao Bắc Cực, chứ không phải chân lý tự nhiên của bản đồ.
Truyền thống Đông Á: lưới ô vuông và tấm bản đồ Kangnido
Ở Trung Hoa cổ, bản đồ gắn chặt với việc quản lý đất đai, đường sá, sông ngòi. Bùi Tú (Pei Xiu), một quan chức thế kỷ 3, được ghi nhận đã nêu sáu nguyên tắc vẽ bản đồ, trong đó có việc dùng tỉ lệ thống nhất, dùng lưới định hướng, và hiệu chỉnh khoảng cách khi đường đi lên xuống, quanh co. Đây là một trong những trình bày lý thuyết sớm nhất về bản đồ học trên thế giới.
Một bằng chứng vật chất nổi bật là Vũ Tích Đồ, bản đồ khắc trên bia đá năm 1136, phủ một lưới ô vuông đều đặn với mỗi ô ứng với một khoảng cách cố định. Hệ thống sông ngòi và đường bờ biển trên bản đồ này khá sát thực tế, cho thấy kỹ thuật đo vẽ theo lưới đã thành nề nếp. Truyền thống này mạnh về bản đồ khu vực có tỉ lệ, trong khi bản đồ thế giới rộng lớn ít được chú trọng hơn.
Năm 1402, các học giả Triều Tiên thời Joseon hoàn thành tấm bản đồ thế giới thường gọi tắt là Kangnido. Bản đồ vẽ Đông Á rất lớn ở trung tâm, nhưng đáng chú ý là có cả hình bán đảo Ả Rập, châu Phi và châu Âu ở phía tây, dù méo nhiều. Các nhà nghiên cứu cho rằng thông tin về phía tây đến qua những nguồn tri thức địa lý lưu chuyển dọc các tuyến giao thương xuyên lục địa trong các thế kỷ trước. Tấm bản đồ là lời nhắc rằng hiểu biết về thế giới đã đi lại giữa các nền văn hoá từ rất sớm.
Dòng thời gian các truyền thống bản đồ thế giới
Các mốc dưới đây là mốc thường được dẫn trong tài liệu lịch sử bản đồ học; niên đại cổ thường chỉ là ước tính.
| Thời điểm | Bản đồ hoặc công trình | Cách nhìn thế giới | Mục đích chính |
|---|---|---|---|
| Khoảng thế kỷ 6 TCN | Tấm đất sét Babylon | Lưỡng Hà ở giữa vòng biển | Diễn giải thế giới, không đo đạc |
| Thế kỷ 6 TCN | Anaximander, Hecataeus (không còn bản gốc) | Vùng đất có người ở quanh Địa Trung Hải | Mô tả vùng đất biết được |
| Khoảng giữa thế kỷ 2 | Bộ Địa lý của Ptolemy | Lưới kinh vĩ độ, kinh tuyến gốc ở rìa tây | Dữ liệu và phương pháp vẽ |
| Thế kỷ 3 | Sáu nguyên tắc của Bùi Tú | Lưới, tỉ lệ, hiệu chỉnh khoảng cách | Quản lý đất đai, đường sá |
| Từ thế kỷ 7 trở đi | Sơ đồ T-O | Ba phần thế giới, phía đông ở trên | Minh hoạ, giáo dục |
| 1136 | Vũ Tích Đồ khắc đá | Lưới ô vuông theo tỉ lệ | Bản đồ sông ngòi, khu vực |
| 1154 | Tabula Rogeriana của al-Idrisi | Phía nam ở trên, chia đới khí hậu | Tổng hợp tri thức địa lý |
| Cuối thế kỷ 13 | Hải đồ portolan | Đường bờ biển và đường hướng la bàn | Đi biển Địa Trung Hải |
| 1402 | Bản đồ Kangnido | Đông Á ở trung tâm, có cả châu Phi, châu Âu | Tổng hợp tri thức thế giới |
Bảng cho thấy không có một con đường tiến hoá duy nhất từ "bản đồ thô sơ" tới "bản đồ chính xác". Nhiều truyền thống phát triển song song, mỗi truyền thống mạnh ở một mặt: đo đạc theo lưới, đường bờ biển cho người đi biển, hay tổng hợp tri thức từ nhiều nguồn.
Đọc bản đồ cổ cho công bằng
Khi xem một tấm bản đồ cổ, câu hỏi hữu ích không phải "nó sai bao nhiêu" mà là "người vẽ biết gì, cần gì và tin gì". Một vùng bị vẽ quá to thường là vùng người vẽ hiểu rõ hoặc coi là quan trọng. Một vùng bị bỏ trống hay điền sinh vật kỳ lạ thường là vùng thông tin chỉ đến qua lời đồn. Đọc theo cách đó, bản đồ cổ trở thành tư liệu về tầm hiểu biết và mối quan tâm của cả một thời đại.
Cũng nên tránh lối nghĩ rằng một nền văn hoá "chưa biết" vùng nào đó chỉ vì vùng ấy vắng trên bản đồ của họ. Rất nhiều tri thức địa lý được truyền miệng, được ghi trong lộ trình viết bằng chữ, hoặc được người đi biển giữ trong đầu dưới dạng hướng sao, hướng gió, hướng sóng mà không bao giờ vẽ ra giấy. Những cư dân đi biển ở Thái Bình Dương là ví dụ nổi bật về khả năng định hướng trên đại dương rộng lớn mà không dùng bản đồ giấy theo kiểu châu Âu.
Sau cùng, bản đồ cổ là cầu nối sang thời đại tiếp theo. Năm 1507, bản đồ thế giới của Martin Waldseemüller lần đầu ghi tên America cho vùng đất mới ở phía tây. Năm 1570, Abraham Ortelius xuất bản tập bản đồ thế giới khổ thống nhất thường được coi là atlas hiện đại đầu tiên, và chữ "atlas" được dùng cho tập bản đồ nhờ một ấn phẩm của Mercator in sau khi ông mất. Từ đó, bản đồ chuyển dần từ hình dung sang đo đạc.
Câu hỏi thường gặp
Bản đồ cổ nhất thế giới là bản đồ nào?
Tấm đất sét Babylon khoảng thế kỷ 6 trước Công nguyên thường được gọi là bản đồ thế giới cổ nhất còn lại. Nếu tính cả bản đồ một khu vực nhỏ, có những hình khắc và tấm đất sét còn cổ hơn, nhưng việc xác định chúng có phải bản đồ hay không vẫn còn tranh luận.
Ptolemy có biết châu Mỹ không?
Không. Thế giới của Ptolemy dừng ở quần đảo Canary phía tây và vùng Đông Nam Á phía đông, phần còn lại của quả cầu để trống. Việc ông kéo dài khối Á – Âu về phía đông khiến các nhà hàng hải sau này tưởng khoảng cách từ châu Âu đi về phía tây tới châu Á ngắn hơn thực tế.
Vì sao nhiều bản đồ cổ đặt phía đông hoặc phía nam ở trên?
Không có quy luật tự nhiên nào bắt phía bắc phải ở trên. Mỗi truyền thống chọn theo thói quen: sơ đồ T-O đặt phía đông, nơi mặt trời mọc, ở trên; nhiều bản đồ trong truyền thống viết tiếng Ả Rập đặt phía nam ở trên. Quy ước bắc ở trên phổ biến dần cùng hải đồ châu Âu và la bàn.
Bản đồ T-O có cho thấy người trung đại nghĩ Trái Đất phẳng không?
Không. Giới học giả trung đại châu Âu nhìn chung chấp nhận Trái Đất hình cầu. Sơ đồ T-O chỉ vẽ phần đất có người ở như một hình tròn phẳng để minh hoạ cách chia ba phần, giống như sơ đồ tàu điện ngầm không cho thấy thành phố là một mặt phẳng.
Có thể xem bản đồ cổ ở đâu?
Nhiều thư viện và bảo tàng lớn trên thế giới đã số hoá bộ sưu tập bản đồ cổ với độ phân giải cao, cho phép xem miễn phí. Ở Việt Nam, các thư viện và trung tâm lưu trữ quốc gia cũng lưu giữ bản đồ cổ; nên tra danh mục của chính các cơ quan này.
Bản đồ portolan có lưới kinh vĩ tuyến không?
Không theo nghĩa hiện đại. Portolan dùng mạng đường hướng toả ra từ các hoa hướng gió, giúp đặt thước tìm góc la bàn, chứ không có lưới kinh độ, vĩ độ như bản đồ của Ptolemy. Độ chính xác của nó đến từ kinh nghiệm đi biển tích luỹ, không phải từ đo thiên văn.