DaiLuc.comĐại Lục
Lịch sử khám phá và bản đồ

Cách đọc bản đồ cho đúng: tỉ lệ, chú giải, toạ độ kinh vĩ độ và đường đồng mức

Đọc bản đồ đúng gồm năm bước: xác định loại bản đồ, xem tỉ lệ, đọc chú giải, định hướng và toạ độ, hiểu đường đồng mức. Kèm ví dụ tính và lỗi hay gặp.

Hiker seen from behind on a rocky ridge holding a blank folded paper sheet and a brass compass, layered blue mountain ridges fading into morning mist

Đọc một tấm bản đồ cho đúng gồm năm việc theo thứ tự: biết đó là loại bản đồ gì, xem tỉ lệ, đọc chú giải, xác định hướng và toạ độ, rồi mới đọc địa hình qua đường đồng mức hoặc màu phân tầng. Bỏ qua bước đầu là dễ hiểu nhầm cả tấm bản đồ, ví dụ đem bản đồ hành chính ra đoán độ cao, hay đem bản đồ Mercator ra so diện tích.

Với học sinh, đây là kỹ năng địa lý nền tảng. Với người đi phượt, leo núi hay làm việc ngoài thực địa, đây là kỹ năng an toàn: điện thoại có thể hết pin hoặc mất sóng, còn một tấm bản đồ giấy đọc đúng thì vẫn dẫn đường được.

Bài này đi từng bước, có phép tính tỉ lệ làm mẫu, cách đọc toạ độ kinh độ vĩ độ, cách nhận ra đỉnh, sườn dốc, thung lũng trên đường đồng mức, và bảng các lỗi đọc bản đồ hay gặp.

Bước 1: Nhận diện loại bản đồ trước khi đọc

Mỗi loại bản đồ trả lời một câu hỏi khác nhau, nên cùng một ký hiệu có thể mang nghĩa khác. Bốn nhóm hay gặp:

  • Bản đồ địa hình: thể hiện độ cao, sông suối, đường sá, khu dân cư, thường có đường đồng mức. Dùng khi đi thực địa, leo núi, quy hoạch.
  • Bản đồ tự nhiên tổng quát trong atlas: dùng màu phân tầng để thể hiện độ cao và độ sâu, xanh lá cho đồng bằng, vàng – nâu cho núi, xanh dương cho biển.
  • Bản đồ hành chính: thể hiện ranh giới, tên đơn vị, thủ phủ. Màu ở đây chỉ để phân biệt vùng, không mang nghĩa độ cao.
  • Bản đồ chuyên đề: thể hiện một chủ đề như khí hậu, dân số, thảm thực vật, có chú giải riêng; màu đậm nhạt thường là số liệu.

Một lỗi phổ biến là thấy màu nâu trên bản đồ hành chính rồi tưởng là vùng núi, hoặc thấy màu xanh trên bản đồ dân số rồi tưởng là rừng. Đọc tên bản đồ và dòng chú giải đầu tiên trước khi nhìn màu là thói quen tránh được gần hết những nhầm lẫn này.

Với bản đồ thế giới trong atlas, có thêm một việc ở bước này: nhìn hình dạng lưới kinh tuyến – vĩ tuyến để đoán phép chiếu. Lưới vuông vức với vĩ tuyến giãn dần về phía cực là Mercator, hợp để xem hướng nhưng không hợp để so diện tích; lưới có kinh tuyến cong dần ra hai bên, mép bản đồ bo tròn thường là phép chiếu dung hoà như Robinson hay Winkel Tripel; lưới tròn với cực ở giữa là phép chiếu phương vị, hợp để xem vùng cực. Biết phép chiếu trước giúp bạn biết những gì trên tấm bản đồ đó đáng tin để so sánh.

Cũng nên xem năm biên soạn: đường sá, ranh giới hành chính và bờ biển bồi lở thay đổi theo thời gian, bản đồ cũ có thể không còn khớp thực địa.

Bước 2: Tỉ lệ bản đồ và phép tính khoảng cách

Tỉ lệ cho biết bản đồ thu nhỏ thực tế bao nhiêu lần. Có ba cách ghi. Tỉ lệ số như 1:50.000 nghĩa là 1 đơn vị trên bản đồ ứng với 50.000 đơn vị ngoài thực địa: 1 cm trên bản đồ là 50.000 cm, tức 500 m. Tỉ lệ chữ ghi trực tiếp "1 cm ứng với 500 m". Thước tỉ lệ là một đoạn thẳng chia vạch, có ưu điểm là vẫn đúng khi bản đồ được phóng to, thu nhỏ hay chụp ảnh lại, vì thước co giãn cùng bản đồ.

Ví dụ giả định: trên bản đồ tỉ lệ 1:25.000, hai bản làng cách nhau 6 cm theo đường chim bay. Khoảng cách thật là 6 × 25.000 = 150.000 cm, tức 1,5 km. Nếu đường mòn uốn lượn, hãy đặt một sợi chỉ dọc theo đường, kéo thẳng rồi đo; chiều dài đường mòn thường dài hơn khoảng cách chim bay đáng kể, chưa kể độ dốc khiến thời gian đi bộ tăng lên.

Điểm hay gây nhầm là "tỉ lệ lớn" và "tỉ lệ nhỏ". Bản đồ tỉ lệ lớn là bản đồ có mẫu số nhỏ, như 1:10.000 hay 1:25.000, thể hiện vùng hẹp nhưng chi tiết. Bản đồ tỉ lệ nhỏ có mẫu số lớn, như 1:1.000.000 hay nhỏ hơn, thể hiện vùng rộng như cả nước, cả châu lục, nhưng lược bớt chi tiết. Bản đồ thế giới trong atlas là bản đồ tỉ lệ rất nhỏ, và trên đó tỉ lệ còn thay đổi theo vị trí do phép chiếu, nên chỉ dùng để ước lượng.

Bước 3: Chú giải và hệ thống ký hiệu

Chú giải là "từ điển" của tấm bản đồ, thường đặt ở góc. Ký hiệu được chia làm ba loại theo hình học. Ký hiệu điểm chỉ vị trí của một đối tượng nhỏ so với tỉ lệ: thủ phủ, mỏ khoáng sản, đỉnh núi, sân bay. Ký hiệu đường thể hiện đối tượng kéo dài: sông, đường giao thông, ranh giới, đường bờ biển. Ký hiệu vùng tô màu hoặc vẽ hoa văn một diện tích: rừng, đầm lầy, vùng trồng lúa, mặt hồ.

Kích thước ký hiệu không phải lúc nào cũng tỉ lệ với kích thước thật. Một con đường trên bản đồ tỉ lệ 1:1.000.000 vẽ dày 1 mm, nếu tính theo tỉ lệ sẽ rộng 1 km ngoài thực tế, điều rõ ràng là không đúng; người vẽ phóng ký hiệu lên để còn nhìn thấy được. Tương tự, một thành phố có thể chỉ là một chấm tròn, kích thước chấm báo quy mô dân số chứ không báo diện tích.

Màu sắc cũng có quy ước khá thống nhất. Xanh dương cho nước, xanh lá cho thực vật hoặc vùng thấp, nâu cho địa hình và đường đồng mức, đen cho công trình do con người làm ra. Tuy vậy, mỗi cơ quan bản đồ có hệ ký hiệu riêng, và bản đồ chuyên đề hay đổi quy ước theo dữ liệu. Không bao giờ đoán nghĩa ký hiệu khi chú giải đang nằm ngay trên tờ giấy.

Bước 4: Hướng bắc, kinh độ và vĩ độ

Phần lớn bản đồ hiện đại đặt phía bắc ở trên, nhưng đó chỉ là quy ước. Luôn tìm mũi tên chỉ bắc hoặc lưới kinh tuyến trước khi suy ra hướng. Trên bản đồ địa hình, người ta thường phân biệt bắc địa lý (hướng về cực Bắc theo kinh tuyến), bắc lưới (hướng các đường lưới toạ độ trên bản đồ) và bắc từ (hướng kim la bàn chỉ). Góc lệch giữa bắc từ và bắc địa lý gọi là độ từ thiên, thay đổi theo nơi và theo năm, nên bản đồ địa hình thường ghi kèm giá trị cho từng vùng.

Toạ độ địa lý xác định một điểm bằng hai con số. Vĩ độ đo góc từ xích đạo về phía bắc hoặc nam, từ 0 đến 90 độ. Kinh độ đo góc từ kinh tuyến gốc về phía đông hoặc tây, từ 0 đến 180 độ. Mỗi độ chia 60 phút, mỗi phút chia 60 giây; nhiều thiết bị ngày nay ghi dạng thập phân. Một độ vĩ ứng với khoảng 111 km ở mọi nơi, còn một độ kinh dài khoảng 111 km ở xích đạo và ngắn dần về phía cực.

Ví dụ để định vị: Hà Nội nằm quanh vĩ độ 21 độ bắc, kinh độ khoảng 105,8 độ đông; Thành phố Hồ Chí Minh quanh vĩ độ 10,8 độ bắc, kinh độ khoảng 106,7 độ đông. Hai thành phố gần như cùng kinh độ nên chênh nhau chủ yếu theo chiều bắc – nam, khoảng 10 độ vĩ, xấp xỉ 1.100–1.150 km theo đường chim bay. Khi đọc toạ độ, luôn kiểm tra chữ N/S, E/W hoặc dấu âm dương: nhầm một dấu là điểm của bạn nhảy sang bán cầu khác.

Bước 5: Đọc địa hình qua đường đồng mức

Đường đồng mức là đường nối các điểm có cùng độ cao. Hình dung cắt ngọn núi bằng những mặt phẳng ngang cách đều nhau, rồi nhìn thẳng từ trên xuống: mỗi lát cắt để lại một vòng khép kín. Khoảng cách độ cao giữa hai đường liền kề gọi là khoảng cao đều, ví dụ 10 m hoặc 20 m, ghi trong chú giải. Cứ vài đường lại có một đường đậm hơn, ghi số độ cao, gọi là đường cái, giúp đếm nhanh.

Từ đó rút ra mấy quy tắc đọc. Các đường sát nhau là sườn dốc; các đường thưa là sườn thoải hoặc đất bằng. Các vòng khép kín nhỏ dần vào trong, số tăng dần, là một đỉnh. Đường đồng mức uốn hình chữ V hoặc chữ U với mũi nhọn chỉ về phía độ cao lớn hơn là một thung lũng hay khe suối, vì nước chảy ngược hướng mũi nhọn. Ngược lại, chữ U với mũi chỉ về phía độ cao thấp hơn là một sống núi. Chỗ thắt lại giữa hai đỉnh, nơi các đường đồng mức như hình đồng hồ cát, là yên ngựa, thường là lối vượt núi dễ nhất.

Trên bản đồ tự nhiên tỉ lệ nhỏ, đường đồng mức được thay bằng màu phân tầng độ cao: mỗi khoảng độ cao một màu. Bản đồ còn có thể kèm bóng địa hình, giả như ánh sáng chiếu từ góc trên bên trái, để mắt cảm nhận khối núi. Bóng này đẹp nhưng không cho biết độ cao chính xác; muốn biết độ cao vẫn phải đọc đường đồng mức hoặc điểm độ cao ghi số.

Những lỗi đọc bản đồ hay gặp và cách tránh

Bảng sau tổng hợp các lỗi giáo viên địa lý và người hướng dẫn leo núi hay gặp nhất.

LỗiVì sao saiCách tránh
So diện tích các nước trên bản đồ MercatorVùng vĩ độ cao bị phóng to nhiều lầnTra số liệu diện tích hoặc dùng bản đồ đồng diện tích
Nhầm tỉ lệ lớn với tỉ lệ nhỏNghĩ mẫu số lớn là "tỉ lệ lớn"Nhớ: mẫu số nhỏ là tỉ lệ lớn, chi tiết hơn
Đo khoảng cách theo chim bay rồi tính giờ đi bộĐường thật quanh co, có dốcĐo theo đường mòn, cộng thêm thời gian cho mỗi đoạn leo cao
Đọc nhầm hướng dòng chảyKhông để ý mũi nhọn đường đồng mứcMũi chữ V ở khe suối chỉ về phía thượng nguồn
Dùng la bàn mà bỏ qua độ từ thiênBắc từ lệch với bắc địa lýĐọc giá trị độ từ thiên trên bản đồ và hiệu chỉnh
Tin bản đồ cũ như thực địa hiện tạiĐường, rừng, bờ sông đã thay đổiXem năm biên soạn, đối chiếu ảnh vệ tinh gần đây

Phần lớn các lỗi trên không do thiếu kiến thức mà do bỏ qua bước. Đi đúng trình tự năm bước, chỉ mất một hai phút đầu, đổi lại giảm hẳn khả năng hiểu sai cả tấm bản đồ.

Khi đi thực địa, thêm một thói quen nữa: thỉnh thoảng dừng lại đối chiếu bản đồ với ít nhất hai vật mốc thật, như một khúc sông và một đỉnh núi. Nếu hai vật mốc không khớp, hãy quay về điểm cuối cùng bạn chắc chắn vị trí thay vì đi tiếp theo cảm giác.

Câu hỏi thường gặp

Bản đồ trên điện thoại có cần đọc chú giải không?

Có, dù ít hơn. Bản đồ số thay đổi ký hiệu theo mức thu phóng, chế độ vệ tinh và chế độ địa hình. Khi bật lớp địa hình, các đường mảnh màu nâu là đường đồng mức, số ghi trên đó là độ cao; nếu không để ý, rất dễ nhầm với đường mòn.

Làm sao xác định hướng khi không có la bàn?

Ban ngày có thể dựa vào mặt trời mọc ở phía đông, lặn ở phía tây. Vào mùa đông, buổi trưa mặt trời ở Việt Nam lệch về phía nam; mùa hè nó ở gần đỉnh đầu, có lúc lệch về phía bắc, nên dùng bóng trưa để tìm hướng kém tin cậy. Ban đêm ở Bắc bán cầu có thể tìm sao Bắc Cực. Sau đó xoay bản đồ cho khớp các vật mốc lớn như sông, núi.

Khoảng cao đều bao nhiêu là phổ biến?

Tuỳ tỉ lệ và địa hình. Bản đồ địa hình tỉ lệ lớn ở vùng núi thường dùng khoảng cao đều vài chục mét, vùng đồng bằng có thể dùng khoảng nhỏ hơn để thể hiện các gò thấp. Con số chính xác luôn ghi trong chú giải, nên đọc trước khi đếm đường.

Toạ độ trên bản đồ địa hình Việt Nam có giống toạ độ trên điện thoại không?

Không hẳn. Bản đồ địa hình Việt Nam dùng hệ VN-2000 với lưới chiếu riêng, còn điện thoại thường hiển thị kinh độ, vĩ độ theo hệ WGS-84. Hai hệ có thể lệch nhau vài chục đến vài trăm mét nếu không chuyển đổi đúng, nên khi làm việc chính xác cần dùng công cụ chuyển hệ.

Vì sao bản đồ thế giới không ghi một tỉ lệ duy nhất?

Vì trên bản đồ thế giới, tỉ lệ thay đổi theo vị trí do phép chiếu. Tỉ lệ ghi ở góc thường chỉ đúng dọc theo một đường nhất định, ví dụ xích đạo. Đo khoảng cách giữa hai thành phố ở vĩ độ cao bằng thước tỉ lệ ấy sẽ cho kết quả sai.

Học sinh nên luyện đọc bản đồ thế nào?

Cách hiệu quả là đọc bản đồ của chính nơi mình sống: tìm trường, nhà, sông gần nhất, ước khoảng cách rồi đi kiểm. Sau đó chuyển sang bản đồ địa hình một vùng núi quen, tập nhận đỉnh, khe suối, yên ngựa, rồi so với ảnh chụp thực tế.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.