DaiLuc.comĐại Lục
Châu Á

Những con sông lớn châu Á: Dương Tử, Hoàng Hà, Mê Kông, Hằng, Ấn và các châu thổ

Các sông lớn châu Á dài bao nhiêu, chảy qua đâu, bồi nên đồng bằng nào: Dương Tử, Hoàng Hà, Mê Kông, Hằng, Ấn, Brahmaputra và những vấn đề của châu thổ.

Aerial view of a wide brown river splitting into many channels across a green delta toward the sea, tiny boats, palm-fringed villages

Những con sông dài nhất châu Á gồm Dương Tử (Trường Giang, khoảng 6.300 km, dài nhất châu lục), hệ Ob – Irtysh, Hoàng Hà (khoảng 5.400 km), Yenisei, Lena, Mê Kông và Amur. Ở Nam Á có ba con sông lớn là sông Ấn, sông Hằng và Brahmaputra; ở Tây Á là đôi sông Tigris – Euphrates. Chiều dài nêu ở đây là con số làm tròn: đo sông luôn có nhiều cách, tuỳ chọn nguồn xa nhất, cách tính đoạn uốn khúc và nơi kết thúc ở cửa sông.

Quan trọng hơn chiều dài là những gì các con sông làm được ở hạ lưu. Phần lớn dân số châu Á sống trên các đồng bằng phù sa và châu thổ do sông bồi đắp: đồng bằng Hoa Bắc, hạ lưu Trường Giang, đồng bằng Ấn – Hằng, châu thổ Bengal, châu thổ Mê Kông, châu thổ sông Hồng. Bài này đi qua từng hệ sông lớn, cách chúng tạo nên đồng bằng, và những vấn đề mà các châu thổ đang đối mặt.

Bảng các sông lớn châu Á: con số làm tròn

Bảng dưới ghi chiều dài làm tròn theo các con số hay được dẫn; khi hai nguồn lệch nhau đáng kể, bảng ghi khoảng. Đây là để hình dung độ lớn, không phải để xếp hạng chính xác.

SôngChiều dài (khoảng)Chảy quaĐổ ra
Dương Tử (Trường Giang)6.300 kmTrung QuốcBiển Hoa Đông
Hoàng Hà5.400 – 5.500 kmTrung QuốcBiển Bột Hải
Ob – Irtysh5.400 kmTrung Quốc, Kazakhstan, NgaBắc Băng Dương
Mê Kông4.300 – 4.900 km tuỳ cách đoTrung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia, Việt NamBiển, qua châu thổ ở Việt Nam
Ấn3.000 – 3.200 kmTrung Quốc, Ấn Độ, PakistanBiển Ả Rập
Brahmaputrakhoảng 2.900 kmTrung Quốc, Ấn Độ, BangladeshVịnh Bengal (nhập với sông Hằng)
Hằngkhoảng 2.500 kmẤn Độ, BangladeshVịnh Bengal
Irrawaddykhoảng 2.100 kmMyanmarBiển Andaman

Mê Kông là ví dụ điển hình cho chuyện đo sông khó: con số thấp thường thấy trong tài liệu cũ, con số cao hơn đến từ các khảo sát sau này với nguồn được xác định xa hơn trên cao nguyên. Cả hai đều có cơ sở, nên cách nói an toàn là "khoảng 4.300 đến 4.900 km".

Dương Tử và Hoàng Hà: hai dòng sông, hai tính cách

Dương Tử, người Trung Quốc gọi là Trường Giang, chảy từ cao nguyên Tây Tạng qua các hẻm núi sâu ở thượng lưu, qua bồn địa Tứ Xuyên, vượt vùng Tam Hiệp rồi ra đồng bằng rộng với rất nhiều hồ nối thông. Lưu vực nằm trong vùng gió mùa ẩm, nên sông nhiều nước quanh năm và là trục giao thông thuỷ quan trọng: tàu lớn đi được rất sâu vào nội địa. Cửa sông là một châu thổ rộng, nơi nhiều đô thị lớn mọc lên sát nhau.

Hoàng Hà có tính cách khác hẳn. Sông đi qua cao nguyên Hoàng thổ, cuốn theo lượng bùn cát thuộc hàng lớn nhất thế giới, rồi chảy ra đồng bằng Hoa Bắc phẳng và khô hơn. Bùn lắng xuống làm đáy sông nâng dần, người ta đắp đê cao hơn, rồi đáy sông lại nâng tiếp. Ở nhiều đoạn hạ lưu, lòng sông cao hơn mặt ruộng hai bên, nên được gọi là "sông trên cao".

Hệ quả là Hoàng Hà nhiều lần vỡ đê và đổi dòng trong lịch sử, có khi cửa sông dịch chuyển hàng trăm km từ phía nam sang phía bắc bán đảo Sơn Đông, lần lớn gần đây nhất vào giữa thế kỷ 19. Người ta vì thế vừa coi Hoàng Hà là cái nôi của nông nghiệp vùng Hoa Bắc, vừa coi nó là dòng sông khó trị bậc nhất. Ngược lại, vào một số năm khô hạn của cuối thế kỷ 20, đoạn cuối Hoàng Hà từng cạn đến mức không chảy ra tới biển do lấy nước tưới quá nhiều.

Mê Kông: dòng sông của sáu nước và nhịp lũ đặc biệt

Mê Kông bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, chảy qua vùng núi Vân Nam, làm ranh giới tự nhiên giữa một số nước ở trung lưu, xuyên qua Lào, vùng đông bắc Thái Lan, Campuchia rồi đổ ra biển ở Việt Nam. Tên gọi khác nhau theo từng đoạn: ở thượng nguồn là Lan Thương, ở Việt Nam sông chia làm hai nhánh lớn là sông Tiền và sông Hậu, và người ta quen gọi phần cuối là Cửu Long vì những cửa sông đổ ra biển, dù ngày nay một số cửa đã bị bồi lấp hoặc có công trình ngăn.

Nét đặc biệt nhất của Mê Kông là Biển Hồ Tonlé Sap ở Campuchia. Mùa lũ, nước Mê Kông dâng cao đến mức dòng sông Tonlé Sap nối với hồ chảy ngược lên, đổ nước vào hồ, làm diện tích hồ nở ra gấp nhiều lần. Mùa khô, dòng chảy đảo chiều, hồ trả nước về Mê Kông, giúp điều hoà dòng chảy cho châu thổ phía dưới. Hồ cũng là nơi cá đẻ và lớn lên, nuôi một trong những nghề cá nước ngọt lớn nhất thế giới.

Mê Kông có hệ cá nước ngọt rất đa dạng, với những loài lớn như cá tra dầu, một trong những loài cá nước ngọt lớn nhất thế giới, hiện rất hiếm. Ở hạ lưu, nhịp lũ hằng năm tạo nên mùa nước nổi ở các tỉnh đầu nguồn đồng bằng sông Cửu Long như An Giang, Đồng Tháp, mang phù sa và cá tôm vào ruộng. Nhiều nghiên cứu ghi nhận lượng phù sa về châu thổ đã giảm mạnh trong những thập kỷ gần đây do các hồ chứa ở thượng nguồn giữ lại và do khai thác cát lòng sông.

Sông Ấn, sông Hằng và Brahmaputra ở Nam Á

Sông Ấn, dòng sông của vùng khô. Bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, sông Ấn vòng qua tây bắc Himalaya rồi chảy xuống đồng bằng khô của Pakistan. Phần lớn nước đến từ băng tuyết tan. Vùng Punjab tưới bằng sông Ấn và các phụ lưu là một trong những hệ thống tưới liền mạch lớn nhất thế giới. Ven sông Ấn từng có các đô thị cổ quy hoạch theo ô bàn cờ, cho thấy dòng sông đã nuôi đô thị từ hàng nghìn năm trước.

Sông Hằng, đồng bằng đông dân. Sông Hằng bắt nguồn từ sông băng sườn nam Himalaya, chảy về phía đông qua đồng bằng màu mỡ nhất Ấn Độ. Lưu vực sông là nơi sinh sống của hàng trăm triệu người. Trong sông có cá heo sông Hằng, loài cá heo nước ngọt gần như mù, định hướng bằng âm thanh trong làn nước đục.

Brahmaputra, dòng sông bện. Từ cao nguyên Tây Tạng, sông chảy về phía đông rồi vòng gấp qua hẻm vực sâu xuống thung lũng Assam. Ở đây sông rất rộng, chia thành vô số nhánh đan vào nhau quanh những bãi cát thay đổi hằng năm; hòn đảo sông Majuli là một trong những đảo sông lớn có người ở.

Gặp nhau thành châu thổ lớn nhất. Sông Hằng và Brahmaputra cùng đổ về vùng Bengal, tạo nên châu thổ thường được gọi là lớn nhất thế giới. Hai con sông mang theo lượng phù sa khổng lồ, bồi tụ cả một hệ thống đảo, bãi và rừng ngập mặn ở cửa sông.

Châu thổ hình thành ra sao và vì sao lại đông dân

Khi sông chảy tới biển, dòng nước chậm lại đột ngột và bùn cát lắng xuống. Nếu lượng phù sa mang tới nhiều hơn lượng sóng và dòng biển cuốn đi, đất mới sẽ lấn dần ra biển, tạo thành châu thổ. Sông chia nhánh nhiều lần trên mặt châu thổ, mỗi nhánh mở rộng một vùng đất, rồi bỏ lòng cũ chuyển sang lòng mới khi lòng cũ bị bồi cao. Qua hàng nghìn năm, các nhánh này dệt nên một mặt đất phẳng, thấp, đầy kênh rạch.

Châu thổ là nơi lý tưởng cho lúa nước: đất mịn giàu dinh dưỡng, mặt bằng phẳng dễ làm ruộng, nước dồi dào. Đó là lý do mật độ dân số ở các châu thổ châu Á thuộc hàng cao nhất thế giới. Châu thổ sông Hồng rộng khoảng 15.000 km², được bao bằng hệ thống đê dày đặc vì mùa lũ dâng nhanh. Đồng bằng sông Cửu Long rộng khoảng 40.000 km², thấp hơn, không có đê bao lớn dọc sông chính như ở miền Bắc, và từ lâu sống chung với lũ theo kiểu cho nước vào đồng.

Hai cách ứng xử khác nhau phản ánh hai chế độ nước khác nhau: sông Hồng lũ lên xuống nhanh, nhiều phù sa đỏ, nên cần đê để giữ an toàn; Mê Kông lũ lên chậm và kéo dài, được Biển Hồ điều tiết, nên có thể chung sống với nước. Hiểu sự khác biệt này giúp lý giải vì sao làng mạc, nhà cửa và lịch thời vụ ở hai đồng bằng lại khác nhau đến vậy.

Những vấn đề các châu thổ châu Á đang đối mặt

Các châu thổ lớn của châu Á, từ Bengal tới Mê Kông, đang chịu những sức ép giống nhau mà giới nghiên cứu đã ghi nhận rộng rãi:

  • Sụt lún: đất châu thổ tự nén chặt theo thời gian, và việc bơm nước ngầm quá mức làm quá trình này nhanh hơn nhiều. Ở một số vùng, tốc độ sụt lún được đo là lớn hơn tốc độ nước biển dâng.
  • Thiếu phù sa: hồ chứa, đập và khai thác cát giữ lại hoặc lấy đi bùn cát, khiến châu thổ không còn được bồi đủ để bù cho sụt lún và xói lở bờ biển.
  • Xâm nhập mặn: mùa khô, khi lượng nước sông xuống thấp, nước biển lấn sâu theo các cửa sông vào kênh rạch, ảnh hưởng tới lúa và nước sinh hoạt.
  • Nước biển dâng: mặt đất châu thổ chỉ cao hơn mực biển vài mét hoặc ít hơn, nên mỗi centimét nước biển dâng đều có ý nghĩa.
  • Ô nhiễm: các thành phố và vùng sản xuất đông đúc trên lưu vực đổ nước thải xuống sông, ảnh hưởng tới nghề cá và sức khoẻ.

Các giải pháp đang được thử nghiệm khá đa dạng: hạn chế khai thác nước ngầm, chuyển đổi mô hình canh tác thích ứng với nước lợ ở vùng ven biển, trồng rừng ngập mặn để giữ bờ, và phối hợp quản lý nước trên cả lưu vực sông thay vì chỉ ở từng đoạn.

Irrawaddy, Chao Phraya và sông Hồng: những dòng sông của Đông Nam Á lục địa

Ngoài Mê Kông, phần lục địa Đông Nam Á còn ba con sông nuôi những đồng bằng lớn. Irrawaddy chảy gần trọn chiều dài Myanmar từ bắc xuống nam, từ lâu là trục giao thông chính của đất nước, rồi chia nhánh thành một châu thổ trồng lúa rộng lớn. Đất thấp ven biển khiến châu thổ này dễ bị nước dâng do bão; cơn bão Nargis năm 2008 đã gây thiệt hại rất nặng ở đây.

Chao Phraya được hình thành từ chỗ hợp lưu của hai sông Ping và Nan ở miền trung Thái Lan, chảy qua đồng bằng trung tâm rồi đổ ra vịnh Thái Lan. Bangkok nằm trên châu thổ của sông, đất thấp và đang sụt lún, nên từng có hệ thống kênh rạch dày đặc dùng làm đường đi lại.

Sông Hồng bắt nguồn từ vùng núi Vân Nam, chảy theo hướng tây bắc – đông nam qua miền Bắc Việt Nam, dài khoảng 1.100 – 1.200 km tuỳ cách tính. Màu đỏ nâu của nước đến từ phù sa giàu ôxít sắt bị xói từ vùng đồi núi thượng nguồn. Cùng với sông Thái Bình, sông Hồng bồi nên châu thổ Bắc Bộ, nơi hệ thống đê điều nghìn năm đã định hình làng xóm và đường sá.

Câu hỏi thường gặp

Sông nào dài nhất châu Á?

Theo các con số được dẫn phổ biến, Dương Tử (Trường Giang) là sông dài nhất châu Á, khoảng 6.300 km, và thường đứng thứ ba thế giới sau sông Nile và sông Amazon. Thứ tự giữa Nile và Amazon còn tranh luận do cách đo, nhưng vị trí dài nhất châu Á của Dương Tử ít khi bị nghi ngờ.

Vì sao đồng bằng sông Cửu Long gọi là Cửu Long?

Cửu Long nghĩa là chín con rồng, chỉ các cửa sông Mê Kông đổ ra biển ở Việt Nam qua hai nhánh sông Tiền và sông Hậu. Con số chín mang tính ước lệ trong cách gọi quen thuộc; số cửa thực tế đã thay đổi theo thời gian do bồi lấp tự nhiên và do các công trình ngăn mặn ở một số cửa.

Sông Tonlé Sap chảy ngược có thật không?

Có thật. Mùa lũ, mực nước Mê Kông ở chỗ hợp lưu cao hơn mực nước Biển Hồ, nên nước chảy ngược theo sông Tonlé Sap vào hồ trong vài tháng. Khi lũ rút, Mê Kông hạ xuống thấp hơn hồ và dòng chảy quay lại hướng cũ. Hiện tượng này là một trong những chế độ thuỷ văn đặc biệt nhất thế giới.

Sông nào ở châu Á mang nhiều phù sa nhất?

Hoàng Hà thường được nhắc là sông có hàm lượng phù sa trong nước cao nhất thế giới, do chảy qua cao nguyên Hoàng thổ. Xét về tổng lượng bùn cát đưa ra biển mỗi năm, hệ Hằng – Brahmaputra đứng ở nhóm đầu thế giới. Lượng phù sa của nhiều sông lớn đã giảm trong vài thập kỷ gần đây do đập và hồ chứa.

Vì sao châu thổ sông Hồng có đê còn đồng bằng sông Cửu Long ít đê lớn dọc sông?

Lũ sông Hồng lên nhanh, đỉnh lũ cao và nhiều phù sa, nên từ xưa người dân đã đắp đê giữ ruộng và làng. Lũ Mê Kông lên chậm, kéo dài và được Biển Hồ Tonlé Sap điều tiết, nên người dân miền Tây quen sống chung với lũ, để nước vào đồng đem phù sa và cá. Gần đây miền Tây cũng có thêm đê bao để làm thêm vụ lúa.

Có phải tất cả sông lớn châu Á đều bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng?

Không. Nhiều sông lớn bắt nguồn từ khối núi này, nhưng các sông Siberia như Ob, Yenisei, Lena bắt nguồn từ dãy Altai, Sayan và vùng hồ Baikal; Tigris và Euphrates bắt nguồn từ cao nguyên Anatolia; Irrawaddy có nguồn từ vùng núi phía bắc Myanmar. Vì vậy cụm từ tháp nước châu Á chỉ đúng cho phần lớn các sông Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.