Đông Á là khu vực phía đông của châu Á, gồm phần lớn Trung Quốc, Mông Cổ, bán đảo Triều Tiên và quần đảo Nhật Bản. Nét tự nhiên chi phối mọi thứ ở đây là địa hình hạ thấp dần từ tây sang đông theo từng bậc: cao nguyên và núi cao ở phía tây, các bồn địa và cao nguyên trung bình ở giữa, rồi những đồng bằng phù sa rộng lớn sát biển.
Kết hợp với gió mùa, cái thang địa hình đó tạo ra hai thế giới khác hẳn nhau: phía tây và tây bắc khô, lạnh, nhiều hoang mạc; phía đông và đông nam ẩm, mưa mùa hè dồi dào, nơi tập trung gần như toàn bộ dân cư. Trong nửa phía đông ấy lại có một đường ranh giới khí hậu nổi tiếng tách vùng trồng lúa mì phía bắc với vùng lúa gạo phía nam, quyết định luôn cả cách người ta ăn hằng ngày.
Bài này đi qua các bậc địa hình, những vùng tự nhiên tiêu biểu, quần đảo núi lửa ngoài khơi, nhịp mưa theo mùa và dấu ấn của địa lý lên bữa ăn và chữ viết trong khu vực.
Ba bậc địa hình từ tây sang đông
Bậc cao nhất là cao nguyên Tây Tạng cùng các dãy núi bao quanh, độ cao trung bình trên 4.000 m. Đây là phần mái của cả châu Á, nơi bắt nguồn của Hoàng Hà và Trường Giang (sông Dương Tử). Bậc thứ hai nằm ở độ cao chừng 1.000 đến 2.000 m, gồm cao nguyên Nội Mông, cao nguyên Hoàng thổ, bồn địa Tứ Xuyên và cao nguyên Vân Quý. Vùng này đất đai cắt xẻ mạnh, nhiều bồn địa kín được núi bao quanh.
Bậc thấp nhất là dải đồng bằng phía đông dưới 500 m: đồng bằng Đông Bắc, đồng bằng Hoa Bắc do Hoàng Hà bồi đắp, và đồng bằng trung – hạ lưu Trường Giang với dày đặc hồ, kênh rạch. Đây là những vùng nông nghiệp lâu đời, mật độ dân rất cao.
Hệ quả rõ nhất của cái thang này là hướng chảy của sông: các sông lớn đều chảy từ tây sang đông, đổ ra biển Hoàng Hải hoặc biển Hoa Đông. Khi sông xuống từ bậc này sang bậc khác, lòng sông dốc và hẹp, tạo ra những hẻm vực sâu như vùng Tam Hiệp trên Trường Giang. Cũng vì độ dốc lớn mà khu vực có tiềm năng thuỷ điện rất cao, song cũng chịu nhiều trận lũ dữ ở hạ lưu.
Những vùng tự nhiên tiêu biểu của đất liền Đông Á
Cao nguyên Hoàng thổ. Một vùng rộng chừng 600.000 km² ở trung lưu Hoàng Hà, phủ lớp đất bụi mịn màu vàng có nơi dày hàng trăm mét. Lớp bụi này do gió mang từ các hoang mạc phía tây bắc tới và tích tụ qua hàng triệu năm. Đất hoàng thổ màu mỡ nhưng rất dễ xói, nên sườn đồi bị cắt thành vô số khe rãnh, và chính lượng bùn khổng lồ trôi xuống sông đã nhuộm vàng Hoàng Hà.
Hoang mạc Gobi và lòng chảo Tarim. Gobi trải trên phần nam Mông Cổ và bắc Trung Hoa, phần lớn là đá sỏi chứ không phải đồi cát; mùa đông lạnh dưới âm 30 độ C. Xa hơn về phía tây, hoang mạc Taklamakan nằm trong lòng chảo Tarim bị núi bao kín ba mặt, là một trong những biển cát khô nhất thế giới.
Thảo nguyên Mông Cổ. Mông Cổ có phần lớn lãnh thổ là cao nguyên đồng cỏ ở độ cao trên 1.000 m, mùa đông dài, khắc nghiệt. Nghề chăn nuôi di chuyển theo mùa vẫn còn là nhịp sống của một phần đáng kể dân cư, với lều tròn có thể tháo dựng nhanh.
Đồng bằng Đông Bắc. Vùng đất đen màu mỡ được bao bởi các dãy núi Đại Hưng An, Tiểu Hưng An và Trường Bạch, mùa hè ngắn nhưng ấm, mùa đông rất lạnh. Đây là một vựa ngô, đậu tương và lúa gạo vùng ôn đới.
Quần đảo Nhật Bản và bán đảo Triều Tiên
Ngoài khơi phía đông là quần đảo Nhật Bản, một chuỗi cánh cung với bốn đảo lớn Hokkaido, Honshu, Shikoku, Kyushu cùng hàng nghìn đảo nhỏ. Khoảng ba phần tư diện tích là đồi núi, nên dân cư dồn xuống các đồng bằng ven biển hẹp như đồng bằng Kanto. Quần đảo nằm trên vành đai lửa Thái Bình Dương, nơi nhiều mảng thạch quyển gặp nhau, vì thế có hàng trăm núi lửa, trong đó khoảng một trăm còn hoạt động, và động đất xảy ra thường xuyên. Núi Phú Sĩ, khoảng 3.776 m, là một núi lửa hình nón gần như cân đối, lần phun gần nhất vào đầu thế kỷ 18.
Đời sống ở đây thích nghi với rủi ro tự nhiên theo nhiều cách thực tế: nhà gỗ nhẹ truyền thống, quy chuẩn xây dựng chống động đất, đê chắn sóng thần dọc bờ biển, tập huấn sơ tán từ khi còn nhỏ. Các suối nước nóng nhiều vô kể cũng là một hệ quả của hoạt động núi lửa ấy.
Bán đảo Triều Tiên nhô ra biển, kẹp giữa biển Hoàng Hải ở phía tây và vùng biển sâu ở phía đông. Địa hình chủ yếu là đồi núi thấp và trung bình, cao hơn ở phía đông và phía bắc, thoải dần về phía tây, nên các sông chính chảy sang tây và các đồng bằng lúa cũng tập trung ở sườn tây. Nơi cao nhất bán đảo là núi Paektu (Bạch Đầu) ở biên giới phía bắc, khoảng 2.700 m, cũng là một núi lửa có hồ trên miệng.
Khí hậu Đông Á theo mùa: một năm diễn ra thế nào
Đông Á có khí hậu gió mùa điển hình của vùng ôn đới và cận nhiệt, nhưng nhịp mùa thay đổi mạnh từ bắc xuống nam. Bảng dưới đây mô tả xu hướng chung, mỗi nơi lệch đi vài tuần.
| Thời kỳ | Điều xảy ra | Cảm nhận trên mặt đất |
|---|---|---|
| Mùa đông (khoảng tháng 12 – 2) | Cao áp Siberia đẩy khí lạnh khô xuống phía nam và phía đông | Phía bắc rất lạnh, khô hanh, bụi; phía nam se lạnh, trời âm u |
| Mùa xuân | Cao áp suy yếu, gió đổi hướng thất thường | Bão bụi từ Gobi và cao nguyên Hoàng thổ có thể bay tới tận bán đảo Triều Tiên và Nhật Bản |
| Đầu hè (khoảng tháng 6 – 7) | Một dải mưa đứng yên kéo dài dọc lưu vực Trường Giang, nam Triều Tiên và Nhật Bản | Mùa mưa mai: mưa dầm, độ ẩm rất cao, đồ đạc dễ mốc |
| Giữa và cuối hè | Dải mưa dịch lên phía bắc, gió mùa đông nam đem hơi ẩm vào sâu đất liền | Nóng ẩm; bão nhiệt đới đổ vào bờ biển phía đông nam và Nhật Bản |
| Mùa thu | Gió mùa đông bắt đầu lấn xuống | Trời trong, khô, mát, mùa lá đỏ ở vùng núi |
Tên "mưa mai" xuất phát từ việc mùa mưa rơi vào lúc quả mơ mai chín. Người Nhật gọi là tsuyu hoặc baiu, người Hàn gọi là jangma. Cùng một hiện tượng khí tượng, mỗi nơi một cái tên, mỗi nơi một kiểu sắp xếp mùa màng theo đó.
Đường Tần Lĩnh – Hoài Hà: nơi lúa mì nhường chỗ cho lúa gạo
Giữa đồng bằng Hoa Bắc và lưu vực Trường Giang có dãy Tần Lĩnh chạy theo hướng đông – tây, nối tiếp về phía đông là sông Hoài. Các nhà địa lý từ lâu coi đường Tần Lĩnh – Hoài Hà là ranh giới tự nhiên quan trọng nhất của Trung Quốc. Phía bắc đường này, lượng mưa năm phần lớn dưới khoảng 800 mm, nhiệt độ tháng Giêng xuống dưới 0 độ C, sông có thể đóng băng mùa đông. Phía nam mưa nhiều hơn, mùa đông ít khi băng giá.
Lúa nước cần ruộng ngập nước và mùa sinh trưởng ấm, nên vùng phía nam trở thành đất của lúa gạo. Phía bắc khô và lạnh hơn, hợp với lúa mì, kê và cao lương. Sự khác biệt ấy đi thẳng vào bữa ăn: phía bắc quen với mì sợi, bánh bao, sủi cảo làm từ bột mì; phía nam ăn cơm là chính, cùng bún, phở, bánh làm từ bột gạo.
Dĩ nhiên ranh giới bữa ăn không sắc như nét kẻ: giao thông và di cư đã trộn lẫn khẩu vị hai miền, và giống lúa chịu lạnh đã đưa ruộng lúa lên tận đồng bằng Đông Bắc. Tuy vậy, khi hỏi vì sao người phương bắc chuộng món bột còn người phương nam chuộng cơm, câu trả lời sâu nhất vẫn nằm ở lượng mưa và nhiệt độ hai bên một dãy núi.
Chữ viết và nhịp sống: địa lý để lại dấu gì
Một vùng chữ Hán chung trong lịch sử. Chữ Hán từng là chữ viết học thuật chung của Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản và cả Việt Nam trong nhiều thế kỷ. Ngày nay mỗi nơi đi một hướng: Trung Quốc dùng chữ giản thể, một số cộng đồng người Hoa vẫn giữ chữ phồn thể, Nhật Bản kết hợp chữ Hán với hai bộ chữ biểu âm hiragana và katakana.
Hangul của Triều Tiên. Bộ chữ Hangul được tạo ra vào thế kỷ 15 với mục tiêu để người dân thường dễ học. Các phụ âm cơ bản được thiết kế mô phỏng hình dạng cơ quan phát âm, rồi ghép thành từng khối âm tiết vuông. Đây là một trong số ít hệ chữ lớn trên thế giới có người tạo ra và thời điểm ra đời được ghi chép rõ.
Mật độ dân dồn về phía đông. Phần lớn dân cư Đông Á sống trên các đồng bằng và dải ven biển chiếm diện tích nhỏ. Các chuỗi đô thị lớn nối liền nhau như hành lang Tokyo – Osaka hay vùng châu thổ Trường Giang và Châu Giang là kết quả của việc đất bằng hiếm và quý.
Kiến trúc thích ứng khí hậu. Nhà truyền thống ở bán đảo Triều Tiên có hệ sưởi sàn ondol dẫn khói bếp chạy dưới nền; nhà vùng hoàng thổ có kiểu nhà hang đào vào vách đất, ấm về đông, mát về hè. Mỗi kiểu nhà là một lời giải cho bài toán khí hậu tại chỗ.
Sinh vật đặc trưng: gấu trúc, khỉ tuyết và những "hoá thạch sống"
Đông Á có nhiều loài động vật, thực vật không nơi nào khác có. Nổi tiếng nhất là gấu trúc lớn, sống trong rừng tre trên các dãy núi ẩm mát ở rìa phía đông cao nguyên Tây Tạng. Dù thuộc bộ ăn thịt, gấu trúc ăn gần như toàn tre, nên phải ăn nhiều giờ mỗi ngày; quần thể hoang dã đã tăng lên nhờ hệ thống khu bảo tồn và hành lang rừng nối các vùng sống bị chia cắt.
Ở Nhật Bản, khỉ tuyết là loài linh trưởng ngoài con người sống xa về phía bắc nhất thế giới; đàn khỉ ngâm mình trong suối nước nóng giữa mùa tuyết ở vùng núi miền trung Honshu là hình ảnh quen thuộc. Sếu đầu đỏ, loài chim lớn có đỉnh đầu đỏ, trú đông ở đảo Hokkaido và vùng đầm lầy Đông Bắc.
Dòng Trường Giang thì để lại một bài học buồn: cá heo sông Dương Tử, loài cá heo nước ngọt đặc hữu, đã không còn được tìm thấy trong cuộc khảo sát lớn năm 2006 và được coi là có lẽ đã tuyệt chủng. Về thực vật, cây bạch quả và cây thuỷ sam được gọi là hoá thạch sống vì họ hàng của chúng từng phổ biến khắp Bắc bán cầu từ thời khủng long, nay chỉ còn quần thể tự nhiên ở vùng núi Trung Quốc.
Câu hỏi thường gặp
Mông Cổ thuộc Đông Á hay Trung Á?
Trong cách chia của Liên Hợp Quốc và phần lớn sách giáo khoa, Mông Cổ thuộc Đông Á. Tuy nhiên về tự nhiên và lối sống, Mông Cổ gần với vùng thảo nguyên Trung Á: khí hậu lục địa khô lạnh, đồng cỏ, chăn nuôi di chuyển. Vì vậy một số tài liệu địa lý văn hoá xếp Mông Cổ vào Trung Á theo nghĩa rộng.
Vì sao Hoàng Hà lại có màu vàng?
Màu vàng đến từ lượng bùn rất lớn sông cuốn theo khi chảy qua cao nguyên Hoàng thổ, nơi đất bụi mịn bị mưa rào mùa hè xói mạnh. Hoàng Hà thuộc nhóm sông có hàm lượng phù sa cao nhất thế giới. Phù sa lắng đọng ở hạ lưu làm đáy sông nâng dần, khiến dòng sông nhiều lần vỡ đê và đổi dòng trong lịch sử.
Bão bụi mùa xuân ở Đông Á từ đâu tới?
Bụi chủ yếu xuất phát từ hoang mạc Gobi, lòng chảo Tarim và cao nguyên Hoàng thổ vào cuối đông, đầu xuân, khi đất khô, chưa có cỏ phủ và gió mạnh. Gió tây đưa bụi bay xa hàng nghìn km, có đợt phủ tới bán đảo Triều Tiên và Nhật Bản. Trồng rừng chắn gió và phục hồi đồng cỏ là các biện pháp đang được áp dụng.
Vì sao Nhật Bản có nhiều động đất và núi lửa?
Quần đảo Nhật Bản nằm ở nơi nhiều mảng thạch quyển gặp nhau trên vành đai lửa Thái Bình Dương. Các mảng đại dương chúi xuống dưới quần đảo, tạo ra áp lực tích tụ gây động đất và đá nóng chảy dâng lên thành núi lửa. Cơ chế chi tiết thuộc về khoa học trái đất; ở góc địa lý, đây là lý do quần đảo có dạng cánh cung và nhiều suối nước nóng.
Mưa mai ở Đông Á có giống gió mùa Tây Nam ở Việt Nam không?
Cả hai đều thuộc hệ gió mùa mùa hè châu Á nhưng không giống hẳn. Mưa mai là một dải front đứng yên tương đối lâu, gây mưa dầm kéo dài nhiều tuần ở lưu vực Trường Giang, Hàn Quốc và Nhật Bản. Mùa mưa ở Nam Bộ Việt Nam chủ yếu do gió mùa tây nam mang hơi ẩm từ Ấn Độ Dương, với mưa rào và dông theo buổi.
Vùng nào ở Đông Á có thể trồng lúa xa nhất về phía bắc?
Nhờ các giống lúa chịu lạnh và mùa hè đủ ấm, ruộng lúa đã xuất hiện ở đồng bằng Đông Bắc và cả đảo Hokkaido của Nhật Bản, những nơi mùa đông rất lạnh. Điều kiện quyết định là mùa sinh trưởng không sương giá đủ dài và nguồn nước tưới ổn định, chứ không phải nhiệt độ mùa đông.