DaiLuc.comĐại Lục
Kỷ lục tự nhiên và so sánh các châu lục

Diện tích và dân số các châu lục: châu nào rộng nhất, đông nhất, thưa người nhất

Châu Á rộng nhất và đông dân nhất, châu Đại Dương nhỏ nhất, Nam Cực không có dân thường trú: so sánh diện tích, dân số, mật độ bảy châu lục theo tỉ lệ dễ nhớ.

Night view from high altitude of a vast continent with clusters of glowing city lights and dark empty interior regions, thin blue atmosphere line on the horizon

Châu Á rộng nhất (khoảng 44 triệu km², gần một phần ba đất liền) và đông dân nhất (khoảng sáu phần mười dân số thế giới). Theo diện tích, tiếp theo là châu Phi (khoảng 30 triệu km²), Bắc Mỹ (khoảng 24–25 triệu km²), Nam Mỹ (khoảng 17,8 triệu km²), Nam Cực (khoảng 14 triệu km²), châu Âu (khoảng 10 triệu km²) và châu Đại Dương (khoảng 8,5 triệu km²).

Theo dân số, thứ tự là châu Á, châu Phi, châu Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Đại Dương; Nam Cực không có dân thường trú, chỉ có nhân viên các trạm nghiên cứu luân phiên. Châu Âu nhỏ thứ hai về diện tích nhưng đông thứ ba về dân, còn châu Đại Dương thưa người nhất trong các châu lục có dân.

Mọi con số dưới đây đều làm tròn và phụ thuộc vào cách vạch ranh giới châu lục cũng như năm ước tính, nên bài ưu tiên so theo tỉ lệ — thứ ít thay đổi hơn từng con số.

Bảng diện tích, dân số và mật độ bảy châu lục

Diện tích tính cả đảo ven bờ. Dân số làm tròn theo các ước tính gần đây; mật độ là phép chia thô, chỉ để so quy mô.

Châu lụcDiện tích (khoảng)Phần đất liền thế giớiDân số (khoảng)Phần dân số thế giớiMật độ thô (người/km²)
Châu Á44 triệu km²Gần 30%4,7–4,8 tỉKhoảng 59%Hơn 100
Châu Phi30 triệu km²Khoảng 20%1,4–1,5 tỉKhoảng 18%Khoảng 50
Bắc Mỹ (gồm Trung Mỹ, Caribe)24–25 triệu km²Khoảng 16%Khoảng 600 triệuKhoảng 7%Khoảng 25
Nam Mỹ17,8 triệu km²Khoảng 12%Hơn 400 triệuKhoảng 5%Khoảng 25
Nam Cực14 triệu km²Khoảng 9%Không có dân thường trú0—
Châu Âu10 triệu km²Khoảng 7%Khoảng 740–750 triệuKhoảng 9%Khoảng 75
Châu Đại Dương8,5 triệu km²Khoảng 6%Khoảng 45 triệuDưới 1%Khoảng 5

Tổng diện tích bảy châu lục khoảng 149 triệu km², tức gần 29% bề mặt Trái Đất; phần còn lại là đại dương. Dân số thế giới hiện vào khoảng hơn 8 tỉ người.

Hai cột "phần đất liền" và "phần dân số" kể một câu chuyện rõ: châu Á và châu Âu chiếm phần dân lớn hơn phần đất, châu Phi gần cân bằng, còn châu Mỹ, châu Đại Dương và Nam Cực có phần đất lớn hơn hẳn phần dân.

Vì sao các con số diện tích lệch nhau giữa các sách

Diện tích châu lục không đo trực tiếp như đo một thửa ruộng; nó là tổng diện tích các vùng mà người ta quy ước thuộc châu lục đó. Ba quy ước làm con số thay đổi nhiều nhất là: ranh giới Âu – Á (theo dãy Ural, sông Ural, dãy Caucasus hay vùng trũng Kuma – Manych), việc châu Mỹ tính chung hay tách đôi, và châu Đại Dương gồm những đảo nào.

Ví dụ, Greenland rộng khoảng 2,16 triệu km² về địa lý thuộc Bắc Mỹ; nếu một nguồn tách nó ra thì diện tích Bắc Mỹ giảm gần một phần mười. Nước Nga trải trên cả hai châu: phần châu Âu chỉ chiếm khoảng một phần tư diện tích nhưng tập trung phần lớn dân số, nên cách gán nước Nga làm lệch cả số dân châu Âu lẫn châu Á. Thổ Nhĩ Kỳ, Kazakhstan, Ai Cập (bán đảo Sinai) cũng vắt qua ranh giới hai châu.

Thêm vào đó là các vùng như thềm băng Nam Cực: có tính phần băng nổi trên biển vào diện tích lục địa hay không cũng làm con số dao động. Với châu Đại Dương, có nguồn chỉ tính lục địa Australia (khoảng 7,7 triệu km²), có nguồn gộp cả New Guinea, New Zealand và các quần đảo Thái Bình Dương (khoảng 8,5–9 triệu km²).

Cách đọc an toàn: khi so hai châu lục, lấy số từ cùng một nguồn; khi viết, ghi "khoảng" và nếu cần thì nêu quy ước ranh giới.

Ba nghịch lý dân số giữa các châu lục

Châu Âu nhỏ mà đông. Với khoảng 10 triệu km², châu Âu nhỏ thứ hai, nhưng có khoảng 740–750 triệu người theo cách gộp vùng của Liên Hợp Quốc (tính cả toàn bộ nước Nga), nhiều hơn cả Bắc Mỹ rộng gấp hai rưỡi. Lý do là khí hậu ôn hoà nhờ hải lưu ấm, đất nông nghiệp tốt trải rộng và lịch sử định cư dày đặc hàng nghìn năm.

Bắc Mỹ rộng mà thưa. Phần phía bắc của châu lục là rừng taiga, lãnh nguyên và băng Greenland, rất ít người ở. Gần như toàn bộ dân cư tập trung ở nửa phía nam, ven biển và quanh các hồ lớn.

Châu Phi đứng thứ hai về dân, nhưng trẻ nhất. Tuổi trung vị của dân số châu Phi vào khoảng dưới 20, trong khi ở châu Âu là hơn 40. Điều này có nghĩa tỉ trọng dân số châu Phi trong thế giới được dự báo còn tăng trong nhiều thập kỷ tới, theo các kịch bản dân số của Liên Hợp Quốc.

Nam Mỹ và Bắc Mỹ gần như cùng mật độ, nhưng vì lý do khác nhau. Cả hai có mật độ thô khoảng 25 người/km². Ở Bắc Mỹ, phần trống là vùng lạnh phương bắc; ở Nam Mỹ, phần trống là rừng mưa Amazon và vùng núi cao Andes, trong khi dân cư dồn về dải ven biển và các đô thị lớn. Nam Mỹ cũng thuộc nhóm châu lục có tỉ lệ dân sống ở đô thị cao nhất.

Mật độ dân số: con số trung bình che giấu những gì

Mật độ thô của châu Á hơn 100 người/km², nhưng con số này gộp cả Siberia gần như trống và các đồng bằng phù sa đông đúc bậc nhất thế giới. Đồng bằng sông Hằng, đồng bằng sông Dương Tử, đảo Java hay đồng bằng sông Hồng có mật độ gấp nhiều lần mức trung bình châu lục. Trái lại, cao nguyên Tây Tạng, sa mạc Gobi, Trung Á có những vùng chỉ vài người trên một km².

Để có điểm tựa: Việt Nam rộng khoảng 331.000 km² với hơn 100 triệu dân, mật độ khoảng 300 người/km², cao gấp ba lần mức trung bình châu Á và gấp khoảng sáu lần mức trung bình châu Phi. Diện tích châu Á tương đương khoảng 130 lần Việt Nam; châu Phi khoảng 90 lần; châu Âu khoảng 30 lần; lục địa Australia khoảng 23 lần.

Châu Đại Dương có mật độ thấp nhất trong các châu lục có dân, khoảng 5 người/km². Nhưng đó cũng là số trung bình: phần lớn dân Australia sống trong dải ven biển đông nam và tây nam, còn vùng nội địa khô có nơi hàng trăm km không có khu dân cư. Ở chiều ngược lại, một số quốc đảo nhỏ ở Thái Bình Dương có mật độ rất cao trên diện tích đất ít ỏi.

Bài học chung: muốn hiểu dân cư một châu lục, hãy nhìn bản đồ khí hậu và địa hình trước. Con người tập trung ở đồng bằng phù sa, ven biển và vùng khí hậu ôn hoà; sa mạc, núi cao, vùng cực và rừng rậm nhiệt đới luôn thưa người, bất kể ở châu lục nào.

Nước rộng nhất và đông dân nhất của từng châu lục

Để thấy "trọng tâm" của mỗi châu lục, có thể nhìn vào nước lớn nhất của nó. Số liệu làm tròn, chỉ mang tính so sánh:

  • Châu Á: Ấn Độ và Trung Quốc, mỗi nước khoảng 1,4 tỉ người, cộng lại hơn một phần ba dân số thế giới. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, dân số Ấn Độ đã vượt Trung Quốc khoảng năm 2023.
  • Châu Phi: Nigeria đông dân nhất với hơn 200 triệu người; Algeria rộng nhất, khoảng 2,4 triệu km².
  • Châu Âu: Nga rộng nhất và đông dân nhất nếu tính cả nước; nếu chỉ tính các nước nằm trọn trong châu Âu thì Đức đông dân nhất.
  • Bắc Mỹ: Canada rộng nhất, Hoa Kỳ đông dân nhất với khoảng 340 triệu người; Mexico là nước nói tiếng Tây Ban Nha đông dân nhất thế giới.
  • Nam Mỹ: Brazil vừa rộng nhất vừa đông dân nhất, chiếm gần một nửa diện tích và khoảng một nửa dân số châu lục.
  • Châu Đại Dương: Australia rộng nhất và đông dân nhất, khoảng 27 triệu người; Papua New Guinea đứng thứ hai về dân số.
  • Nam Cực: không có quốc gia; lục địa được quản lý chung theo Hiệp ước Nam Cực, chỉ có các trạm nghiên cứu.

Danh sách cho thấy mức "tập trung" rất khác nhau: Nam Mỹ gần như xoay quanh Brazil, châu Á có hai nước khổng lồ về dân, còn châu Âu và châu Phi chia thành nhiều nước cỡ vừa.

Nam Cực: châu lục không có cư dân

Nam Cực rộng khoảng 14 triệu km², lớn hơn châu Âu và châu Đại Dương, nhưng không có dân thường trú. Người ở đó là nhà khoa học, kỹ thuật viên và nhân viên hậu cần của các trạm nghiên cứu do nhiều nước vận hành. Vào mùa hè Nam bán cầu, số người lên tới vài nghìn; mùa đông, khi máy bay và tàu gần như không tới được, chỉ còn khoảng một nghìn người trú đông.

Không có nông nghiệp, không có thành phố, mọi thứ từ thực phẩm tới nhiên liệu đều phải chở vào. Hiệp ước Nam Cực quy định lục địa này dành cho mục đích hoà bình và nghiên cứu khoa học, nên không có cư dân theo nghĩa thông thường.

Chính vì thế, khi tính mật độ dân số "trung bình đất liền thế giới", cần nhớ rằng gần một phần mười đất liền là Nam Cực trống người. Nếu bỏ Nam Cực ra, mật độ trung bình của phần đất có người ở tăng thêm khoảng một phần mười so với khi chia cho toàn bộ đất liền.

So sánh bằng tỉ lệ: những cặp dễ nhớ

Con số tuyệt đối dễ quên, còn các phép so sánh dưới đây giúp hình dung quy mô lâu hơn. Tất cả dựa trên số làm tròn trong bảng ở trên:

  • Châu Á rộng gần gấp rưỡi châu Phi, và còn nhỉnh hơn châu Phi cộng châu Âu.
  • Châu Phi đủ rộng để chứa Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ và vẫn còn chỗ cho phần lớn châu Âu — một phép so sánh hay được dùng để chỉ ra bản đồ Mercator làm châu Phi trông nhỏ thế nào.
  • Nước Nga, khoảng 17 triệu km², rộng xấp xỉ cả châu Nam Mỹ.
  • Canada, khoảng 10 triệu km², rộng xấp xỉ cả châu Âu.
  • Lục địa Australia rộng gần bằng phần lục địa liền khối của Hoa Kỳ.
  • Nam Cực rộng gần gấp rưỡi châu Âu.
  • Riêng dân số châu Á nhiều hơn tất cả các châu lục còn lại cộng lại.
  • Riêng Ấn Độ và Trung Quốc đông dân hơn toàn bộ châu Phi và châu Mỹ cộng lại.
  • Cả châu Đại Dương có số dân chưa bằng một nửa Việt Nam.

Những cặp so sánh này ít thay đổi theo năm hơn các con số tuyệt đối, nên dùng trong bài giảng hay bài viết sẽ "sống" lâu hơn. Khi cần con số chính xác cho một năm cụ thể, hãy lấy từ các cơ sở dữ liệu dân số chính thức và ghi rõ năm ước tính.

Câu hỏi thường gặp

Châu lục nào nhỏ nhất?

Theo cách chia bảy châu, châu Đại Dương (hay lục địa Australia) nhỏ nhất, khoảng 8,5 triệu km² nếu tính cả các đảo. Châu Âu đứng thứ hai từ dưới lên với khoảng 10 triệu km².

Vì sao châu Á đông dân như vậy?

Châu Á có những đồng bằng phù sa lớn với gió mùa mang mưa, thuận lợi cho trồng lúa nước nuôi được mật độ dân rất cao từ hàng nghìn năm trước. Các nền nông nghiệp lâu đời ở lưu vực sông Hằng, Dương Tử, Hoàng Hà, Mê Kông là gốc rễ của sự đông dân ngày nay.

Châu Phi có rộng hơn Bắc Mỹ không?

Có. Châu Phi khoảng 30 triệu km², Bắc Mỹ khoảng 24–25 triệu km². Trên bản đồ Mercator thường gặp, Bắc Mỹ trông lớn hơn châu Phi vì phép chiếu phóng to các vùng vĩ độ cao.

Có phải dân số châu lục nào cũng đang tăng?

Không. Theo các ước tính gần đây, dân số châu Âu gần như đứng yên hoặc bắt đầu giảm ở nhiều nước; châu Á tăng chậm lại; châu Phi tăng nhanh nhất. Các xu hướng này phụ thuộc vào tỉ lệ sinh, tuổi thọ và di cư.

Diện tích đất liền của Trái Đất là bao nhiêu?

Khoảng 149 triệu km², gần 29% bề mặt hành tinh. Con số này tính cả Nam Cực và các đảo, và thay đổi nhẹ tuỳ cách tính vùng băng nổi và đường bờ biển.

Châu Mỹ tính chung thì đứng thứ mấy?

Nếu gộp Bắc Mỹ và Nam Mỹ thành một châu lục như cách dạy ở một số nước, châu Mỹ rộng khoảng 42 triệu km², đứng thứ hai sau châu Á, với dân số hơn một tỉ người, đứng thứ ba sau châu Á và châu Phi.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.