Hiệp ước Nam Cực được ký năm 1959 tại Washington bởi 12 quốc gia và có hiệu lực từ năm 1961. Nguyên lý cốt lõi rất đơn giản: Nam Cực chỉ dùng cho mục đích hoà bình, tự do nghiên cứu khoa học và chia sẻ kết quả, cấm hoạt động quân sự và nổ hạt nhân, và các yêu sách lãnh thổ được «đóng băng», không bị bác bỏ cũng không được mở rộng trong thời gian hiệp ước có hiệu lực. Ngày nay hiệp ước có hơn năm mươi bên tham gia.
Nhờ khuôn khổ ấy, lục địa có vài chục trạm nghiên cứu thường trực của nhiều nước, cùng nhiều trạm chỉ mở mùa hè. Mùa hè có khoảng vài nghìn người làm việc, mùa đông chỉ còn khoảng một nghìn. Họ đo khí hậu, khoan băng, theo dõi sinh vật, quan sát bầu trời, và sống trong điều kiện cô lập hiếm nơi nào trên Trái Đất có.
Bài này giải thích hiệp ước ở góc nguyên lý, các thoả thuận bảo vệ môi trường đi kèm, rồi đưa bạn vào bên trong một trạm nghiên cứu: người ta làm gì, ăn ở ra sao, vượt qua mùa đông dài thế nào.
Từ Năm Địa vật lý Quốc tế tới hiệp ước
Nửa đầu thế kỷ 20, một số quốc gia đưa ra yêu sách chủ quyền với các phần của Nam Cực, có những vùng yêu sách chồng lên nhau. Nhiều nước khác không công nhận các yêu sách này. Tình hình có thể dẫn tới căng thẳng, nhưng một sự kiện khoa học đã mở ra hướng khác: Năm Địa vật lý Quốc tế, kéo dài từ giữa năm 1957 đến cuối năm 1958, khi hàng chục nước phối hợp nghiên cứu Trái Đất, trong đó Nam Cực là trọng tâm.
Trong khuôn khổ đó, nhiều trạm nghiên cứu được dựng lên trên lục địa, kể cả ngay tại cực Nam và trên cao nguyên băng. Các nhà khoa học từ nhiều nước làm việc cạnh nhau, chia sẻ số liệu thời tiết, đo đạc từ trường, cực quang, băng.
Thành công của sự hợp tác ấy dẫn tới hội nghị và việc ký Hiệp ước Nam Cực ngày 1 tháng 12 năm 1959. Mười hai nước ký đầu tiên là những nước có hoạt động khoa học ở Nam Cực trong Năm Địa vật lý Quốc tế. Hiệp ước có hiệu lực năm 1961 và từ đó mở cho các nước khác gia nhập. Đây thường được nhắc tới như một trong những ví dụ thành công của hợp tác quốc tế về một vùng lãnh thổ rộng lớn.
Hệ thống hiệp ước vận hành qua các cuộc họp tư vấn thường niên. Không phải mọi bên tham gia đều có quyền biểu quyết: quyền này dành cho các bên ký ban đầu và những bên chứng tỏ được hoạt động nghiên cứu khoa học thực chất ở Nam Cực, như lập trạm hoặc tổ chức đoàn khảo sát. Quyết định thường được đưa ra theo đồng thuận, nên tiến trình có thể chậm nhưng ổn định. Một ban thư ký thường trực hỗ trợ việc trao đổi thông tin giữa các bên, từ kế hoạch thám hiểm hằng năm tới báo cáo thanh sát.
Các nguyên lý chính của hiệp ước
Chỉ dùng cho mục đích hoà bình. Cấm căn cứ quân sự, tập trận, thử vũ khí. Quân đội vẫn được phép hỗ trợ hậu cần cho hoạt động khoa học, như vận chuyển bằng máy bay và tàu.
Tự do nghiên cứu khoa học và chia sẻ. Các bên trao đổi kế hoạch, nhân sự và kết quả nghiên cứu. Số liệu khoa học về Nam Cực được công bố rộng rãi.
Đóng băng các yêu sách lãnh thổ. Hiệp ước không công nhận, không bác bỏ, cũng không cho phép yêu sách mới hay mở rộng yêu sách cũ trong thời gian hiệp ước có hiệu lực. Hoạt động trên lục địa không được dùng làm cơ sở cho đòi hỏi chủ quyền. Đây là cách gác lại một vấn đề khó để hợp tác được ngay.
Cấm nổ hạt nhân và đổ chất thải phóng xạ. Nam Cực là một trong những vùng đầu tiên trên thế giới được thoả thuận phi hạt nhân.
Quyền thanh sát. Các bên có quyền cử quan sát viên tới kiểm tra mọi trạm, tàu, thiết bị của bên khác, để bảo đảm hiệp ước được tôn trọng.
Phạm vi. Hiệp ước áp dụng cho vùng phía nam vĩ tuyến 60° nam, gồm lục địa và các thềm băng.
Nghị định thư bảo vệ môi trường và những hiểu lầm thường gặp
Bên cạnh hiệp ước gốc, hệ thống Hiệp ước Nam Cực còn gồm nhiều thoả thuận bổ sung. Quan trọng nhất là Nghị định thư về Bảo vệ Môi trường, ký năm 1991 tại Madrid và có hiệu lực năm 1998. Nghị định thư coi Nam Cực là khu bảo tồn thiên nhiên dành cho hoà bình và khoa học, đặt ra quy định về đánh giá tác động môi trường trước mọi hoạt động, quản lý chất thải, bảo vệ động thực vật, lập khu được bảo vệ đặc biệt, và cấm mọi hoạt động khai thác khoáng sản trừ nghiên cứu khoa học.
Một hiểu lầm hay gặp là «lệnh cấm khai thác khoáng sản sẽ hết hạn năm 2048». Thực tế, nghị định thư không có ngày hết hạn. Điều có thật là sau 50 năm kể từ khi có hiệu lực, một bên có thể đề nghị tổ chức hội nghị xem xét lại, và mọi sửa đổi đều phải qua những điều kiện chặt chẽ. Lệnh cấm vẫn tiếp tục áp dụng trừ khi có một chế độ ràng buộc mới được thông qua.
Hiểu lầm khác là «Nam Cực không thuộc về ai nên ai muốn làm gì cũng được». Trái lại, hoạt động ở đây chịu nhiều quy định hơn hầu hết nơi khác: mọi đoàn khoa học, mọi tàu du lịch từ các nước thành viên đều phải xin phép hoặc khai báo theo luật nước mình để thực hiện cam kết của hiệp ước. Rác thải phải mang ra khỏi lục địa, không được thả sinh vật lạ, không được làm phiền động vật hoang dã. Ngoài ra còn có công ước riêng quản lý việc khai thác sinh vật biển như krill và cá ở Nam Đại Dương.
Các trạm nghiên cứu làm gì
Các trạm ở Nam Cực rất khác nhau về quy mô và vị trí. Lớn nhất là trạm McMurdo của Mỹ trên đảo Ross, giống một thị trấn nhỏ với cầu cảng, đường băng, xưởng sửa chữa, có thể đón hơn một nghìn người vào mùa hè. Trạm Amundsen – Scott nằm ngay tại cực Nam trên lớp băng dày gần ba km. Trạm Vostok của Nga nằm trên cao nguyên Đông Nam Cực, nơi đo được nhiệt độ thấp kỷ lục và nằm phía trên hồ dưới băng cùng tên. Trạm Concordia do Pháp và Ý cùng vận hành trên cao nguyên, một trong những nơi xa xôi nhất mà người ở lại qua mùa đông.
Công việc khoa học trải trên nhiều lĩnh vực. Các nhà băng học khoan lấy lõi băng và theo dõi dòng chảy của băng. Các nhà khí tượng đo nhiệt độ, gió, ozone; chính các phép đo ở Nam Cực đã phát hiện lỗ thủng tầng ozone vào giữa thập niên 1980. Các nhà sinh học theo dõi chim cánh cụt, hải cẩu, krill. Không khí khô, lạnh và trong ở cao nguyên còn rất lý tưởng cho kính thiên văn quan sát bầu trời, và lớp băng trong suốt được dùng làm máy dò hạt neutrino khổng lồ ở cực Nam.
Thiết kế trạm cũng là một lĩnh vực riêng. Nhiều trạm mới đặt trên cột cao để gió thổi tuyết đi qua bên dưới thay vì vùi lấp. Có trạm đặt trên chân trượt, có thể kéo di chuyển khi thềm băng bên dưới nứt. Có trạm thiết kế để dùng chủ yếu năng lượng gió và mặt trời trong mùa hè.
Một năm sống ở trạm: mùa hè đông đúc, mùa đông cô lập
Mùa hè, từ khoảng tháng Mười Một tới tháng Hai, là mùa bận rộn. Máy bay và tàu đưa người, hàng, nhiên liệu tới; các đoàn ra thực địa, dựng trại, khoan băng, đếm chim. Mặt trời không lặn ở vùng trong, công việc có thể kéo dài nhiều giờ liên tục. Cuối mùa hè, phần lớn người rời đi trên chuyến bay hoặc chuyến tàu cuối, để lại một đội nhỏ ở lại qua mùa đông.
Mùa đông, từ khoảng tháng Ba tới tháng Mười, ở nhiều trạm vùng trong không có máy bay nào hạ cánh được vì quá lạnh và tối. Đội qua đông, thường vài chục người hoặc ít hơn, phải tự lo mọi thứ: vận hành máy phát điện, đo đạc khoa học, sửa chữa, nấu ăn, chăm sóc y tế. Trạm thường chỉ có một bác sĩ, nên trước khi đi mọi người phải khám sức khoẻ và răng miệng kỹ lưỡng, vì một ca bệnh tưởng nhỏ ở thành phố có thể thành vấn đề lớn khi không có chuyến bay nào tới được trong nhiều tháng.
Những chi tiết đời thường cho thấy nơi đây khác biệt ra sao. Nước sinh hoạt có được bằng cách nấu chảy tuyết hoặc khai thác giếng băng, nên tắm phải tiết kiệm. Rau tươi hết sau vài tuần đầu mùa đông, trừ ở những trạm có nhà kính trồng rau bằng đèn. Rác được phân loại, nén và chờ mang ra khỏi lục địa vào mùa hè. Để giữ tinh thần, các đội tổ chức bữa tối chung, chiếu phim, tập thể thao, kỷ niệm ngày giữa mùa đông như một ngày lễ đời thường của riêng Nam Cực.
Nam Cực như phòng thí nghiệm về con người và tương lai
Sự cô lập ở các trạm qua đông khiến chúng trở thành nơi nghiên cứu tâm lý và sinh lý con người trong điều kiện khắc nghiệt. Các cơ quan vũ trụ đã dùng trạm Concordia để nghiên cứu cách một nhóm nhỏ sống cùng nhau hàng tháng trời, ngủ nghỉ trong đêm vùng cực, chịu thiếu oxy do độ cao, như một mô phỏng cho các chuyến bay dài trong không gian.
Các nghiên cứu này ghi nhận những vấn đề quen thuộc: rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi, dễ cáu gắt, căng thẳng trong nhóm, đôi khi giảm tập trung vào giữa mùa đông. Điều giúp ích được nêu nhiều là lịch làm việc rõ ràng, thời gian riêng tư, hoạt động chung có ý nghĩa và liên lạc đều đặn với gia đình. Bài học này cũng có giá trị với những người làm việc ở nơi cô lập khác như giàn khoan, tàu biển dài ngày.
Ở góc rộng hơn, Nam Cực là nơi cho thấy hợp tác quốc tế về khoa học có thể vận hành bền bỉ qua nhiều thập kỷ. Số liệu đo ở đây, từ lõi băng tới mực ozone, là tài sản chung của nhân loại. Với những ai quan tâm tới địa lý, hiểu Hiệp ước Nam Cực cũng giúp hiểu vì sao trên nhiều bản đồ, Nam Cực được tô một màu riêng, không thuộc bảng màu quốc gia nào.
Câu hỏi thường gặp
Nam Cực có thuộc nước nào không?
Theo Hiệp ước Nam Cực, các yêu sách lãnh thổ có từ trước được giữ nguyên trạng, không được công nhận chung và không được mở rộng. Trên thực tế lục địa được quản lý chung theo hệ thống hiệp ước, dành cho hoà bình và khoa học. Đây là cách gác lại vấn đề chủ quyền để hợp tác.
Người bình thường có thể tới Nam Cực không?
Có, phần lớn qua các chuyến tàu du lịch mùa hè tới bán đảo Nam Cực, xuất phát từ cảng phía nam Nam Mỹ. Các chuyến đi phải tuân thủ quy định môi trường chặt chẽ: số người lên bờ cùng lúc bị giới hạn, giữ khoảng cách với động vật, không để lại gì.
Làm sao để làm việc ở trạm nghiên cứu Nam Cực?
Thông thường qua chương trình nghiên cứu vùng cực của một quốc gia hoặc qua các dự án khoa học quốc tế. Ngoài nhà khoa học còn cần kỹ sư, thợ máy, đầu bếp, bác sĩ, nhân viên hậu cần. Ứng viên phải khám sức khoẻ, kiểm tra tâm lý và học huấn luyện an toàn.
Ở Nam Cực có internet và điện thoại không?
Các trạm có liên lạc qua vệ tinh, đủ cho thư điện tử, gửi số liệu và gọi điện, nhưng băng thông thường hạn chế và có lúc gián đoạn tuỳ vị trí. Ở thực địa xa trạm, các đoàn dùng điện thoại vệ tinh và radio, liên lạc theo lịch cố định để báo an toàn.
Hiệp ước Nam Cực có áp dụng cho Bắc Cực không?
Không. Bắc Cực là đại dương bao quanh bởi các quốc gia, nên được quản lý theo luật biển quốc tế và luật của các nước ven biển. Ở Bắc Cực có một diễn đàn hợp tác liên chính phủ, nhưng không có hiệp ước tương tự dành cả vùng cho khoa học như Nam Cực.
Vì sao phát hiện lỗ thủng ozone lại gắn với Nam Cực?
Mùa xuân Nam Cực, mây ở tầng bình lưu rất lạnh tạo điều kiện cho các hợp chất chứa clo từ hoạt động con người phá huỷ ozone mạnh. Các phép đo dài hạn tại trạm ven biển phát hiện mức ozone giảm sâu, công bố giữa thập niên 1980, dẫn tới các thoả thuận quốc tế cắt giảm các chất gây hại.